Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực giảm nghèo từ thực tiễn huyện hiệp đức tỉnh quảng nam

Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới, tập trung vào giảm nghèo từ thực tiễn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

92
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Những vấn đề lý luận của hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực giảm nghèo

Chương này tập trung vào việc phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý nhà nướcxây dựng nông thôn mới. Đặc biệt, khái niệm xây dựng nông thôn mới được định nghĩa là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này không chỉ bao gồm việc ban hành các chính sách mà còn phải đảm bảo thực hiện hiệu quả các chương trình giảm nghèo. Đặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là tính đồng bộ, liên ngành và sự tham gia của cộng đồng. Vai trò của quản lý nhà nước là rất quan trọng, vì nó quyết định đến sự thành công của các chương trình phát triển nông thôn và giảm nghèo.

1.1 Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước trong giảm nghèo

Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững là một quá trình có tổ chức, trong đó nhà nước sử dụng quyền lực của mình để điều phối các hoạt động giảm nghèo. Điều này bao gồm việc xây dựng các chính sách, chương trình và dự án nhằm hỗ trợ người nghèo. Vai trò của quản lý nhà nước là tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội cho người dân. Các chính sách cần phải được thiết kế sao cho phù hợp với thực tiễn địa phương, nhằm nâng cao hiệu quả của các chương trình giảm nghèo.

1.2 Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Nội dung của quản lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá các chương trình phát triển nông thôn. Các chính sách cần phải được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của người dân và điều kiện cụ thể của từng địa phương. Việc quản lý cần phải đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả, nhằm tạo ra sự đồng thuận trong cộng đồng. Đặc biệt, việc huy động sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới là rất quan trọng, vì họ là những người trực tiếp hưởng lợi từ các chương trình này.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực giảm nghèo tại huyện Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam

Chương này phân tích thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Hiệp Đức. Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện được trình bày rõ ràng. Thực trạng pháp luật và các chính sách hiện hành về xây dựng nông thôn mớigiảm nghèo cũng được đánh giá. Các số liệu thống kê cho thấy, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện các chương trình giảm nghèo, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức. Đặc biệt, việc thiếu nguồn lực và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng là những vấn đề cần được khắc phục.

2.1 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội

Huyện Hiệp Đức có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, nhưng cũng đối mặt với nhiều khó khăn. Đặc điểm tự nhiên như địa hình, khí hậu ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp. Tình hình kinh tế - xã hội của huyện còn nhiều hạn chế, với tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Việc phát triển hạ tầng cơ sở còn chậm, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của người dân. Do đó, cần có những giải pháp đồng bộ để cải thiện tình hình này.

2.2 Thực trạng pháp luật và chính sách quản lý nhà nước

Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mớigiảm nghèo tại huyện Hiệp Đức cho thấy nhiều chính sách đã được ban hành, nhưng việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Các chính sách chưa thực sự phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân. Hơn nữa, việc thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng đã dẫn đến tình trạng chồng chéo trong thực hiện các chương trình. Cần có sự điều chỉnh và hoàn thiện các chính sách để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

III. Phương hướng và giải pháp thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực giảm nghèo

Chương này đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực giảm nghèo tại huyện Hiệp Đức. Các giải pháp cần tập trung vào việc cải thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng, tăng cường sự tham gia của cộng đồng và nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho người nghèo, nhằm tạo điều kiện cho họ phát triển kinh tế và cải thiện đời sống.

3.1 Phương hướng thực hiện quản lý nhà nước

Phương hướng thực hiện quản lý nhà nước cần tập trung vào việc xây dựng một hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp với thực tiễn địa phương. Cần có sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về các chương trình giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước bao gồm việc cải thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng, tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cho cán bộ quản lý. Cần có các chương trình hỗ trợ cụ thể cho người nghèo, nhằm tạo điều kiện cho họ phát triển kinh tế. Hơn nữa, việc theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình cũng cần được thực hiện thường xuyên để kịp thời điều chỉnh các chính sách cho phù hợp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực giảm nghèo từ thực tiễn huyện hiệp đức tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC GIẢM NGHÈO 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước lĩnh vực giảm nghèo trong xây dựng nôn thôn mới 1. Một số khái niệm * Khái niệm xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm vận động, quán triệt đến mọi tầng lớp nhân dân ở nông thôn tăng cường tinh thần đoàn kết xây dựng nông thôn khang trang, phát triển kinh tế vững mạnh, toàn diện, xây dựng gia đinh văn hóa, hiện đại, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân ở các địa phương. "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã" [Điều 1, Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới].

Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng KT- XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa [Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân và nông thôn]. Nông thôn hiện nay bao gồm làng, xã, thị trấn, thôn, nóc. là nơi người dân thường xuyên sinh sống, phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng ở các địa phương. “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã; Thôn là tên gọi chung của thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc… là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong 8 một xã” [Điều 2, Thông tư số 41/2013/TT - BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới].

* Khái niệm Quản lý Nhà nước Quản lý Nhà nước về giảm nghèo bền vững là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực Nhà nước tới các hoạt động giảm nghèo, như hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giảm nghèo; hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, kế họ hoạch, dự án giảm nghèo; huy động mọi nguồn lực tài chính để đầu tư cho các chương trình dự án giảm nghèo.Qua đó, góp phần giúp người nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình ng trạng nghèo và vươn lên thoát nghèo bền vững. Theo từ điển tiếng Việt: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước. Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật.

Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời các cơ quan nhà nước còn thực hiện các hoạt động có tính chấp hành, điều hành, hành chính nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Qua những quan niệm trên có thể khái niệm, theo tác giả, Quản lý nhà nước là hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước với các chức năng nhiệm vụ được giao, tổ chức quản lý và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đối ngoại để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. [Giáo trình Luật hành chính và Luật Hiến pháp, Từ điển bách khoa Việt Nam] 9 * Khái niệm nghèo Đói nghèo là một hiện tượng xã hội, tồn tại ở mỗi quốc gia, địa phương có nền kinh tế chậm phát triển hoặc ở một số địa phương phát triển những còn một bộ phận dân cư vẫn chưa thoát nghèo.

Trong mỗi điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia sẽ quyết định cuộc sống người dân nơi đó cũng khác nhau. Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục, tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận. Trong đó: Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì sự sống. Nghèo: Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.

Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh [Tuyên bố Liên Hợp quốc, tháng 6/2008]. Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích lũy hầu như không có. Xóa đói là làm cho bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì mức sống, từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì [Đinh Lê Phạm Tuân (2014), Xóa đói giảm nghèo ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, Luận văn Thạc sỹ quản lý kinh tế].

* Khái niệm giảm nghèo Giảm nghèo là giảm tỷ lệ hộ nghèo, người nghèo, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, giúp họ thoát nghèo. * Giảm nghèo bền vững 10 Giảm nghèo bền vững là mục tiêu không để tái nghèo, là phải duy trì các nguồn lực, các nguồn đầu tư triển khai thực hiện xóa đói giám nghèo. Giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm lực lượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định cho giai đoạn sau tăng trưởng nhanh hơn, mạnh hơn [Ngô Thị Quang (2016), Xóa đói giảm nghèo bền vững, chống tái nghèo – thành tựu, thách thức và giải pháp, Đại học nông lâm Thái Nguyên cập nhật 03/10/2016]. Qua nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, lao động - việc làm chao thấy, để giảm nghèo bền vững cần tập trung phát triển kinh tế hạ tầng, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, vươn lên thoát nghèo mà không phải phụ thuộc vào những điều kiện, nguồn lực khác.

Theo quan điểm của PGS, TS. Trần Đình Thiên xác định “không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống”. Đó là biện pháp nhất thời, không bền vững, để thực hiện tốt chính sách xóa đói giảm nghèo, giảm nghèo bền vững, các cấp chính quyền địa phương cần xây dựng cơ chế, tạo nguồn lực để nhân dân tích cực lao động, sản xuất, phát triển kinh tế ổn định, lâu dài và bền vững. Thực hiện theo quy định hiện nay, chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo như sau: Tiêu chí về thu nhập chuẩn nghèo nông thôn: - Thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; - Thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Tiêu chí về thu nhập chuẩn nghèo thành thị: - Thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống. - Thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. * Khái niệm về nông thôn 11 Hiện nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về nông thôn, nông thôn được xem là khác với đô thị, khác về mật độ dân số, cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế. “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” [Chính phủ (2010), Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn] Khái niệm nông thôn mới chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới.

Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, nhìn nhận ở góc độ quản lý, có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác, có mật độ dân cư thấp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội kém phát triển, trình độ dân trí thấp…” [Nguyễn Thanh Bình (2016), Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, Thạc sỹ chuyên ngành phát triển nông thôn].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Quản Lý Nhà Nước Về Xây Dựng Nông Thôn Mới Và Giảm Nghèo Tại Huyện Hiệp Đức, Quảng Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về các giải pháp quản lý nhà nước trong việc thúc đẩy xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng, thách thức và cơ hội trong quá trình thực hiện các chính sách liên quan, đồng thời đề xuất các biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lý. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà hoạch định chính sách, nghiên cứu viên và những ai quan tâm đến phát triển nông thôn bền vững.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn thị xã đông triều tỉnh quảng ninh, nghiên cứu này tập trung vào các giải pháp xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường giải pháp huy động các nguồn lực phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện quế võ tỉnh bắc ninh cung cấp góc nhìn về việc huy động nguồn lực hiệu quả. Cuối cùng, Luận văn sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình nông thôn mới ở xã hải đường huyện hải hậu tỉnh nam định sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của cộng đồng trong quá trình này.