Đặt vấn đề Cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho người dân ở vùng nông thôn là một trong những yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay của Đảng và Nhà nước nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, giảm tỷ lệ phân hóa giàu - nghèo trong xã hội. Có thể thấy, một trong những mục tiêu của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là nâng cao đời sống kinh tế của người dân. Vì thế, tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn, khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên. Có các chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm mức sống giữa nông thôn và thành thị”.
Tuy nhiên các chính sách vĩ mô và vi mô chưa thực sự đồng bộ và chưa mang tính bền vững do thu nhập của người dân hầu hết xoay quanh mức cận nghèo và dễ tái nghèo trở lại. Vì vậy, để nâng cao thu nhập của các các hộ dân tộc Mông và để họ không tái nghèo là một thách thức nan giải, đặc biệt là tại các huyện vùng núi, vùng sâu và vùng xa. Xã Vàng Đán có điều kiện kinh tế xã hội nhìn chung còn nhiều khó khăn, sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, công nghiệp, tiểu thu công nghiệp phát triển chậm. Trình độ dân trí không đồng đều, một số hủ tục lạc hậu, bảo thủ vẫn còn tồn tại, tệ nạn xã hội diễn biễn phức tạp, tiểm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng.
Những điều kiện trên ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế xã hội, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân trong xã. Vì vậy, để thực hiện thành công mục tiêu giảm tỷ lệ đói nghèo và tăng thu nhập cho người dân trong toàn xã, đặc biệt là tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho hộ nông dân người Mông nghèo ở xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên cần phải có những giải pháp mang tính toàn diện và đột phá. Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao thu nhập cho các- hộ dân tộc Mông trên địa bàn xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên” để thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá khách quan thực trạng về thu nhập của các hộ dân tộc Mông ở xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2017-2019.
- Đề xuất giải pháp, chính sách có căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ dân tộc Mông ở xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Kết quả nghiên cứu đề tài cung cấp những bằng chứng khoa học về sự cần thiết phải nâng cao thu nhập cho các hộ dân tộc Mông trên địa bàn xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Trên cơ sở nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân tộc Mông nói riêng và của đồng bào dân tộc miền núi nói chung.
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho địa phương và những người quan tâm đến nâng cao thu nhập cho hộ nghèo người Mông ở miền núi. Ý nghĩa trong thực tiễn Tổng hợp, hệ thống hóa và bổ sung những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao thu nhập của các hộ dân tộc Mông. Đánh giá thực trạng và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân tộc Mông ở một địa phương miền núi, cụ thể là xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ. Đề xuất một số giải pháp có căn cứ khoa học và tính khả thi nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ dân tộc Mông ở một địa phương miền núi, cụ thể là xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên.
Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách về kinh tế và giảm nghèo tại xã Vàng Đán, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Nâng cao thu nhập các hộ nông dân nghèo 2.
Khái niệm hộ nông dân Theo tác giả Frank Ellis (1998) thì “hộ nông dân là các hộ, thu nhập các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao”. Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp nông thôn”.
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”. Từ những khái niệm trên về hộ nông dân của các tác giả có thể hiểu như sau: - Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ,…) ở các mức độ khác nhau. - Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng.
Như vậy hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân Việt nam Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế phổ biến của nông thôn vùng núi Việt Nam với hướng sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp. Kinh tế hộ nông dân có lịch sử ra đời và phát triển lâu dài, có nhiều biến đổi trong tổ chức và quản lý, có nhiều hình thức đa dạng, nhưng chủ yếu được tổ chức ở quy mô gia đình. Hình thức tổ chức kinh tế này có những đặc trưng sau: - Kinh tế hộ nông dân miền núi phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành, mức độ chuyên môn hoá cao, nông lâm kết hợp tạo thành hệ sinh thái bền vững.
Thu nhập và nâng cao thu nhập * Các khái niệm cơ bản Thu nhập của hộ nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà chủ hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy về tái mở rộng sản xuất mở rộng nếu có. Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện. Có thể phân thu nhập của hộ nông dân thành ba loại: Thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập từ phi nông nghiệp và thu nhập khác. Khi nghiên cứu thu nhập của hộ nông dân thường đề cập đến các khái niệm sau: - Tổng thu của hộ là toàn bộ giá trị nhận được từ các nguồn thu bằng tiền của hộ dân chủ yếu là từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, rừng, làm thuê, ngành nghề thủ công, dịch vụ, nguồn thu từ ngân sách và các nguồn thu khác trong một khoảng thời gian thường tính là 1 năm.
Các khoản thu đó có thể bao gồm có thu hiện vật và thu bằng tiền, thu từ sản xuất kinh doanh và thu ngoài sản xuất kinh doanh. Thu trong sản xuất kinh doanh là thu từ sản xuất, làm thuê, lương,. Thu từ ngoài sản xuất kinh doanh là các nguồn từ nước ngoài gửi về, từ anh em họ hàng, từ các hợp đồng kinh tế. - Tổng chi của hộ là toàn bộ chi phí bằng tiền mà hộ bỏ ra bao gồm chi cho sản xuất và chi cho tiêu dùng.
+ Chi sản xuất bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài). + Chi tiêu dùng là các khoản chi ngoài sản xuất phục vụ cho đời sống hàng ngày của hộ. Luan van 5 - Thu nhập thực tế hay còn gọi là thực thu của hộ: Bằng tổng thu trừ đi các chi phí cho sản xuất của hộ. - Tiết kiệm của hộ bằng tổng thu trừ đi toàn bộ chi phí bao gồm cả chi sản xuất và chi tiêu dùng của hộ.
Thu nhập thực tế Tổng thu - chi phí khả biến = Tổng thu nhập ròng Tổng thu nhập ròng - tổng chi phí bất biến = Thu nhập thực tế Thu nhập thực tế - trả lãi tiền vay = Thực kiếm Thực kiếm + Thu từ các hoạt động khác = Thực thu của hộ (Theo Đỗ Kim Chung (1997) * Đặc điểm thu nhập của hộ nông dân Thu nhập của hộ nông dân, đặc biệt là nông dân miền núi luôn có một đặc trưng cơ bản là gắn liền với đất và rừng. Qua thực tế cho thấy, ngoài thu nhập từ đất canh tác nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất rừng và sản phẩm rừng (săn bán, hái lượm), các hộ dân tộc còn có các nguồn thu từ chăn nuôi, nghề phụ, làm thuê, bán hàng, hoạt động du lịch sinh thái. và mới nhất là thu từ dịch vụ môi trường rừng và thu từ chuyển nhượng chứng chỉ các bon. Đặc điểm thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm các khoản thu nhập sau: - Thu nhập từ nông nghiệp: Bao gồm thu từ trồng trọt (thu từ cây lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai, Đậu tương thu trồng cây ăn quả như vải, nhãn, hồng xiêm, bưởi, mít; thu từ trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, Đậu tương); thu từ chăn nuôi (trâu bò, lợn, gà, dê,.