Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Quan niệm chung về nghèo đói và các tiêu chí đánh giá nghèo đói 1. Quan niệm chung về nghèo đói Nghèo đói là một khái niệm mang tính tương đối, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của từng quốc gia, vùng miền, và khu vực trên thế giới. Hiện nay, khi đánh giá về nghèo đói người ta không chỉ quan tâm đến vấn đề nghèo lương thực mà khía cạnh nghèo phi lương thực như các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục, sự bình đẳng trong việc tiếp cận các thành tựu phát triển xă hội và tăng trưởng kinh tế.
cũng được xem xét. Theo đó, khi đưa ra chuẩn nghèo hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới bên cạnh việc sử dụng phương pháp tính toán nhu cầu chi tiêu còn xem xét cả yếu tố tài sản như nhà ở, đất đai, công cụ sản xuất. Cách tiếp cận mới này cho phép nhìn nhận sâu sắc hơn mối quan hệ nhân quả giữa các tiêu chí xác định nghèo, từ đó có thể đề ra chiến lược giảm nghèo toàn diện hơn trên cơ sở đầu tư vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, mạng lưới an sinh xã hội cho những người không có khả năng tham gia vào tăng trưởng. Dưới đây là một số quan niệm về nghèo đói được đưa ra trong ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam [21].
Quan niệm về nghèo đói ở trên thế giới Quan niệm về đói nghèo hay nhận dạng về đói nghèo của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định đói nghèo vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chung nhất là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan (1993), 5 các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương” [20]. Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo, một định nghĩa có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến về nghèo.
Các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá còn để ngỏ về mặt lượng hóa (định lượng), bởi nó chưa tính đến những khác biệt và độ chênh lệch giữa các vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể qui định trình độ phát triển ở mỗi nơi. Quan niệm hạt nhân có trong định nghĩa này là ở nhu cầu cơ bản của con người; căn cứ xác định nghèo là ở chỗ đối với những nhu cầu cơ bản ấy, con người không được hưởng và thỏa mãn. Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la Mỹ mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) - ông Abapia Sen, người được giải Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”.
Như vậy, xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn. Ngân hàng Thế giới còn đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ 6 số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như: dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực (Ngân hàng Thế giới, 2004). UNDP (1998) công bố một bản báo cáo nhan đề “Khắc phục sự nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo: Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định của cộng đồng và được nuôi dưỡng tạm đủ.
Sự nghèo khổ tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu. Sự nghèo khổ cực độ: Nghèo khổ, khốn cùng, tức là không có khả năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu. Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như sự không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hoặc nước khác. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về đói nghèo, nhưng nhìn chung các quan niệm đó đều phản ánh ba khía cạnh của người nghèo: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức độ tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng.
Có hai dạng nghèo[8]. Nghèo tuyệt đối, là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống. Nhu cầu cơ bản, tối thiểu đó là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường, hưởng thụ văn hóa, thông tin, tiếng nói trong cộng đồng. Nghèo tương đối, là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định.
Khái niệm nghèo có thể thống nhất về mặt định tính song không thể thống nhất về mặt định lượng. Bởi vì mỗi quốc gia khác nhau thì mức sống 7 của người dân cũng khác nhau hoặc ngay trong một quốc gia mức sống giữa các vùng, miền cũng có sự khác nhau. Hơn nữa mặt định lượng của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động về sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Do vậy, mỗi quốc gia đã xây dựng một thước đo mức độ đói nghèo riêng thông qua những tiêu chí cụ thể được xác định gọi là chuẩn nghèo và lấy đó làm cơ sở xác định tỷ lệ nghèo đói của quốc gia.
Tỷ lệ nghèo: Là tỷ lệ phần trăm số người hoặc số hộ có mức sống thấp hơn chuẩn nghèo trong tổng số người hoặc số hộ được nghiên cứu (Vũ Cương và Phạm Văn Vận, 2005). Trong đó mức sống được đo bằng các thước đo như sau: Thước đo đơn chiều, thước đo này đo khía cạnh về kinh tế của mức sống và được tính theo thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình từ các cuộc điều tra thu nhập, chi tiêu hoặc điều tra mức sống hộ gia đình. Các nước lựa chọn thu nhập làm thước đo đơn chiều mức sống cho rằng: Thu nhập phản ánh thực chất mức sống của các hộ gia đình hơn là chi tiêu. Các nước chọn chi tiêu làm thước đo đơn chiều mức sống lại cho rằng độ chính xác của số liệu chi tiêu điều tra thường cao hơn so với số liệu điều tra về thu nhập, mức chi tiêu phản ánh thực chất mức sống của các hộ gia đình hơn là thu nhập.
Trong khi thu nhập thường có tính ổn định không cao trong một thời kỳ nhất định. Trên thực tế là có thể kiểm soát được chất lượng số liệu thu nhập hơn số liệu chi tiêu của các hộ nghèo. Nhưng tùy điều kiện nhất định mà mỗi quốc gia sẽ lựa chọn thu nhập hoặc chi tiêu làm thước đo để xác định tỉ lệ đói nghèo của quốc gia mình [20]. Thước đo đa chiều, thước đo đa chiều xem xét mức sống của dân cư một cách đầy đủ, toàn diện hơn.
Nó đo lường mức sống cả mặt kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống theo các chiều khác nhau như: Tình trạng phi tiền tệ, tình trạng dễ bị tổn thương, rủi ro, quyền tự do, bị gạt ra ngoài lề xã hội, bị phân biệt đối xử, bị vi phạm quyền con người. Tóm lại, hai thước đo đơn chiều và đa chiều về đói nghèo đều có những ưu, nhược điểm hay tác động đến giảm nghèo khác nhau. Thước đo nghèo 8 đơn chiều giải quyết các vấn đề về nghèo một cách ngắn hạn trong khi thước đo đa chiều giải quyết nghèo trong dài hạn [21].3 Quan niệm về nghèo đói ở Việt Nam Trước đây, quan niệm về nghèo đói ở Việt Nam khá tương đồng với những định nghĩa về nghèo đói được thừa nhận rộng rãi hiện nay trên thế giới. Việt Nam đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập (18) quán của địa phương.
Tương tự định nghĩa nghèo đói là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện. Thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định. Như vậy, Nghèo của Việt Nam đang được nghiên cứu là nghèo tuyệt đối, thước đo đói nghèo mà Việt Nam đang áp dụng là cách tiếp cận đơn chiều. Trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu tiếp cận nghèo theo thước đo đa chiều.
Hiện nay ở Việt Nam Có Nhiều ý kiến khách nhau sung quanh khái niệm Nghèo đói.