Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Khái niệm và vai trò của giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm Để đưa ra được định nghĩa về giảm nghèo bền vững, trước hết cần phải tìm hiểu các khái niệm liên quan. Nghèo Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nghèo và mỗi nơi sẽ có cách nhìn nhận và quan điểm riêng của mình.
Tuy nhiên, có một điểm tựu chung lại là căn cứ xác định nghèo phải dựa vào tiêu chí về thu nhập hoặc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của người dân. Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã thống nhất và đưa ra quan điểm về nghèo là "tình trạng mà một bộ phận người dân mà những nhu cầu cơ bản không có khả năng được thỏa mãn, trong khi những nhu cầu đó lại phụ thuộc vào mức độ triển KT-XH, tập quán của từng vùng địa lý khác nhau " [71, tr.13] WB đưa ra quan điểm “Nghèo là một khái niệm nhiều chiều cho nên không thể căn cứ vào mỗi tiêu chí về sự thiếu thốn vật chất mà cần phải căn cứ vào các chỉ số khác như: Dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, tính dễ bị tổn thương, quyền phát ngôn và quyền đàm phán” [72] Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025. Theo đó, với chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều năm 2021, từ ngày 1-1-2021 tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19-11-2015 của Thủ tướng Chính phủ. Về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025, các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều gồm tiêu chí thu nhập và tiêu chí mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản.
Cụ thể, tiêu chí thu nhập với khu vực nông thôn 1,5 triệu đồng/người/tháng, khu vực thành thị 2 triệu đồng/người/tháng. Tiêu chí mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản 7 Luan van gồm các DVXH cơ bản (sáu dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin. Cùng với đó là các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin. DVXH cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản và ngưỡng thiếu hụt được quy định cụ thể tại Phụ lục ban hành kèm Nghị định này.
Nghị định cũng quy định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025. Cụ thể, về chuẩn hộ nghèo, ở khu vực nông thôn là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản trở lên. Ở khu vực thành thị, là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản trở lên. Về chuẩn hộ cận nghèo, ở khu vực nông thôn là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt dưới ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản.
Ở khu vực thành thị, là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt dưới ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản. Về chuẩn hộ có mức số trung bình, với khu vực nông thôn là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng hơn 1,5 triệu đồng đến 2,25 triệu đồng. Với khu vực thành thị, là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng hơn 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và DVXH cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác giai đoạn 2022 - 2025.
Kế thừa quan điểm về nghèo trên, quan điểm của tác giả cho rằng: Nghèo là khái niệm đa chiều bao gồm các chỉ số đánh giá dựa trên thu nhập và các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, 8 Luan van không có quyền phát ngôn và quyền lực. Giảm nghèo Giảm nghèo là việc nâng cao mức sông cho một bộ phận dân cư nghèo trong xã hội để họ dần dần thoát nghèo thông qua chỉ số về số lượng và tỷ lệ giảm nghèo. Điều này có thể hiểu là quá trình một bộ phận người dân nghèo được cải thiện thu nhập và nâng cao mức sống của mình [73]. Giảm nghèo bền vững Hiểu theo nghĩa của từ thì giảm nghèo bền vững là phải thực hiện được việc giảm nghèo và tiến tới thoát nghèo nhưng tình trạng đó phải ổn định, nghĩa là không có nguy cơ tái nghèo trong thời gian dài.
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo thì cũng hình thành cụm từ giảm nghèo bền vững và hệ thống chính sách về GNBV. Quan điểm của học viên cho rằng: giảm nghèo bền vững là việc bộ phận dân cư nghèo trong xã hội đã được nâng cao mức sống cũng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản và duy trì được vị thế đó khi xuất hiện những rủi ro hoặc những thách thức và trở ngại mới, để làm được điều đó các cấp chính quyền tại địa phương phải ban hành các chính sách và thực hiện các chương trình để hỗ trợ sản xuất và kinh doanh cho các hộ nghèo cũng tập huấn, nâng cao nhận thức và kiến thức để họ phá triển sản xuất và kinh doanh nhằm nâng cao mức sống cũng phải tạo điều kiện cho bộ phận dân cư nghèo tiếp cận được với các dịch vụ xã hội cơ bản như: Y tế, nước sách, điện, giáo dục… 1. Vai trò của giảm nghèo bền vững Giảm nghèo bền vững có vai trò rất quan trọng cũng như tác động rất lớn đến phát triển KT-XH của một quốc gia trên các khía cạnh về: Tốc độ phát triển kinh tế, bình đẳng xã hội hay chính trị ổn định và xã hội ổn định. Cụ thể: - Giảm nghèo bền vững sẽ tạo động cho sản xuất, khuyến khích người dân tích cực tham gia hoạt động phát triển kinh tế và như vậy thu nhập của người dân tăng lên, kinh tế quốc gia được hưởng lợi 9 Luan van - Giảm nghèo bền vững sẽ tạo sự đoàn kết trong các nhóm dân cư và không có sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư khi tất cả đều được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Chính điều này sẽ tạo sự đoàn kết cũng như tạo ra sự ổn định về mặt xã hội cho quốc gia. - Giảm nghèo bền vững giúp cho vấn đề chính và an ninh của quốc gia được ổn định khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ có thêm nhiều nguồn lực cho việc củng cổ quốc phòng và an ninh quốc gia. Bên cạnh đó khi kinh tế phát triển, nhà nước sẽ triển khai nhiều chương trình an sinh-xã hội để tầng lớp dân cư và nhóm dân cư trong xã hội được tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Ngoài ra, khi quốc gia vững mạnh về kinh tế sẽ hỗ trợ nhiều tài chính hơn cho các chương trình giảm nghèo và khi đó sự chênh lệch mức sống giữa các vùng miền, các địa phương cũng như các nhóm dân cư sẽ được thu hẹp lại và việc giảm nghèo trở nên bền vững hơn và sẽ không có những mẫu thuẫn trong xã hội giúp tình chính trị trong nước ổn định.
- Đối với Việt Nam, vấn đề giảm nghèo bền vững luôn được Đảng và nhà chính phủ coi là động lực cho quá trình phát triển quốc gia cả về mặt kinh tế cũng như ổn định chính trị và xã hội. Mặc dù Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế chưa cao mới mức trung bình thấp của thế giới, nguồn lực của nhà nước và xã hội còn chưa nhiều cũng ảnh hưởng nhiều đến việc thực hiện giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, với sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của nhà nước, trong giai đoạn vừa qua, công tác giảm nghèo của Việt Nam đã đạt nhiều kết quả đáng khích lệ, khi tỷ lệ hộ nghèo giảm theo từng năm, đời sống người dân ngày càng được cải thiện, chênh lệch vùng miền ngày càng giảm. Những điều này góp phần rất lớn vào sự ổn định và phát triển của Việt Nam hiện nay.
Thực hiện chính sách giảm nghèo 1. Khái niệm thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững Để hiểu đúng về nội hàm của việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững, cần phải hiểu rõ bản chất của từng khái niệm liên quan như: 1. Chính sách Thuật ngữ chính sách được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống 10 Luan van kinh-xã hội và trong các tài liệu cũng như văn bản. Chính sách được từ điển tiếng anh dịch là “một đường lối mà chính quyền, các đảng chính trị, các chính trị gia sẽ sử dụng trong hành động …”.
Theo quan điểm của học giả trên thế giới như: Hugh Heclo cho rằng “chính sách không phải là những quyết định và hành động cụ thể mà được xem là đường lối hành động hoặc không hành động …. Theo quan điểm của David Easton “chính sách là một tập hợp các quyết định cũng như hành động để phân phối các giá trị cho các chủ thể tham gia”. Còn theo quan điểm của Smith “chính sách được hiệu việc lựa chọn hành động hoặc không hành động có chủ đích của các lực lượng có quan hệ với nhau” [19, tr45]. Chính sách được Từ điển tiếng Việt định nghĩa là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” [40].
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng cách hiểu chính sách chung nhất hiện này là “những hành động ứng xử về phương diện nào đó của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [19, tr.