Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương tiên phong của cả nước khởi xướng chương trình xóa đói giảm nghèo từ đầu năm 1992. Trong tiến trình 24 năm triển khai (1992 - 2015), Quận 5 luôn là một trong những đơn vị dẫn đầu thành phố về tốc độ hoàn thành các mục tiêu an sinh xã hội. Cụ thể, giai đoạn 1992 - 2003, Quận 5 đã hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 9,9% (tương ứng 3.974 hộ) xuống còn 0% theo chuẩn thu nhập dưới 3 triệu đồng/người/năm. Bước sang các giai đoạn tiếp theo, quận liên tục kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 3,51% giai đoạn 2004 - 2008 và 4% giai đoạn 2009 - 2013 về mức 0%. Đến giai đoạn 2014 - 2015, địa phương đã hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo có mức thu nhập từ 16 triệu đồng/người/năm trở xuống và hộ cận nghèo dưới 21 triệu đồng/người/năm trước thời hạn 1 năm.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy phương pháp đo lường nghèo đơn chiều dựa thuần túy vào tiêu chí thu nhập đã bộc lộ nhiều bất cập. Cách tiếp cận này bỏ sót các chiều thiếu hụt nghiêm trọng về dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, nhà ở, điều kiện sống và thông tin. Khi hộ dân vừa vượt qua ngưỡng thu nhập quy định, họ bị đưa ra khỏi danh sách thụ hưởng chính sách an sinh, dẫn đến rủi ro tái nghèo rất cao trước các biến cố kinh tế - xã hội.

Trước yêu cầu đó, luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm phân tích thực trạng giảm nghèo trên địa bàn Quận 5 trong giai đoạn 1992 - 2015, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2025. Nghiên cứu được triển khai trong không gian hành chính Quận 5 với diện tích 4,27 km², gồm 15 phường, hơn 41.135 hộ dân và có đặc thù 35% dân số là đồng bào người Hoa. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học để chuyển đổi phương thức quản lý từ đơn chiều sang đa chiều, bảo đảm 100% người nghèo được hỗ trợ tiếp cận toàn diện các dịch vụ an sinh cơ bản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển là mở rộng quyền lựa chọn của nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Amartya Sen. Theo quan điểm này, đói nghèo không đơn thuần là sự thiếu hụt về thu nhập mà là sự tước đoạt các năng lực cơ bản, khiến con người không có cơ hội tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe và quyền tham gia vào các quyết định của cộng đồng. Bên cạnh đó, tác giả kết hợp lý thuyết phát triển toàn diện của Joseph Stiglitz, nhấn mạnh vai trò của tính minh bạch thông tin và sự tham gia chủ động của mọi tầng lớp xã hội trong quá trình quản lý phát triển.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Nghèo đơn chiều: Phương pháp xác định tình trạng nghèo chỉ dựa trên một tiêu chí duy nhất là mức thu nhập hoặc mức chi tiêu bình quân đầu người.
  • Nghèo đa chiều: Thước đo toàn diện đánh giá mức sống của dân cư thông qua mức độ thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản, bao gồm 5 chiều: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, tiếp cận thông tin theo Quyết định số 1614/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
  • Giảm nghèo bền vững: Quá trình cải thiện điều kiện sống cho người nghèo, ngăn chặn nguy cơ tái nghèo và từng bước thu hẹp khoảng cách phân hóa giàu nghèo trong xã hội.
  • Chuẩn nghèo theo chi phí nhu cầu cơ bản: Phương pháp tính toán chi phí để thỏa mãn một rổ hàng hóa lương thực tối thiểu đảm bảo 2.100 kcal/ngày/người kết hợp chi phí phi lương thực thiết yếu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đứng trên lập trường phương pháp luận duy vật biện chứng và trừu tượng hóa khoa học của chuyên ngành Kinh tế chính trị. Phương pháp này đòi hỏi xem xét các chính sách an sinh xã hội trong mối liên hệ tương tác đa chiều, đặt sự vận động của đời sống kinh tế Quận 5 trong tổng thể sự phát triển chung của Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp phân tích - tổng hợp và thống kê mô tả được lựa chọn nhằm hệ thống hóa chuỗi số liệu thứ cấp kéo dài 24 năm (1992 - 2015) từ Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Quận 5 và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 5. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là để nhận diện chính xác xu hướng vận động của tỷ lệ hộ nghèo qua các chu kỳ kinh tế và đánh giá hiệu quả phân bổ của từng nguồn quỹ tín dụng.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả thu thập số liệu khảo sát toàn bộ cỡ mẫu gồm 100% hộ nghèo và hộ cận nghèo có mã số quản lý tại 15 phường trên địa bàn Quận 5 (gồm 90 hộ nghèo và 228 hộ cận nghèo đầu giai đoạn 2014 - 2015). Phương pháp chọn mẫu điều tra toàn diện kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý cấp quận, phường và điều tra xã hội học mức sống hộ gia đình trong giai đoạn 2014 - 2016 giúp phản ánh chân thực nhu cầu trợ giúp của từng hộ dân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác giảm nghèo tại Quận 5 đạt tốc độ vượt bậc qua 4 giai đoạn phát triển. Giai đoạn 1 (1992 - 2003), quận đã xóa nghèo cho 3.974 hộ, đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 9,9% về 0%. Giai đoạn 2 (2004 - 2008), 1.554 hộ nghèo (chiếm 3,51% dân số) đã vượt chuẩn thu nhập 6 triệu đồng/người/năm. Giai đoạn 3 (2009 - 2013), quận tiếp tục hỗ trợ 1.659 hộ nghèo (tỷ lệ 4%) vượt chuẩn 12 triệu đồng/người/năm. Giai đoạn 2014 - 2015, toàn bộ 90 hộ nghèo (tỷ lệ 0,21%) và 228 hộ cận nghèo (tỷ lệ 0,54%) đã hoàn thành vượt chuẩn thu nhập trước thời hạn 1 năm.

Thứ hai, việc huy động các nguồn lực tài chính đạt quy mô lớn và đa dạng. Tổng nguồn vốn Quỹ Xóa đói giảm nghèo của Quận 5 lũy kế từ năm 1992 đến năm 2015 đạt 121,259 tỷ đồng, tăng trưởng liên tục từ 1,181 tỷ đồng (năm 1992 - 1993) lên 6,725 tỷ đồng (năm 2015) với mức lãi suất cho vay ưu đãi 0,5%/tháng. Dư nợ vốn vay Ngân hàng Chính sách xã hội đạt 9,550 tỷ đồng cho 489 hộ nghèo. Nguồn vốn vận động xã hội hóa từ cộng đồng giai đoạn 2001 - 2015 đạt 44,887 tỷ đồng (cấp quận 28,471 tỷ đồng, cấp phường 16,415 tỷ đồng).

Thứ ba, các chính sách an sinh xã hội đa chiều được triển khai đồng bộ. Trong giai đoạn 2009 - 2013, quận đã cấp và vận động mua 2.667 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, đạt tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế 100% đối với hộ nghèo và 83,12% đối với hộ cận nghèo vào giai đoạn 2014 - 2015. Về giáo dục, đã thực hiện miễn giảm học phí cho 1.905 lượt học sinh với kinh phí hơn 795,628 triệu đồng và trao 2.635 suất học bổng trị giá 1,745 tỷ đồng. Về nhà ở, quận đã xây dựng mới 19 căn và sửa chữa 42 căn nhà tình thương với tổng kinh phí 695,6 triệu đồng.

Thứ tư, mô hình quản lý cơ sở được kiện toàn chặt chẽ. Hệ thống Tổ tự quản giảm nghèo được sắp xếp từ 57 tổ với 1.675 thành viên giai đoạn 2009 - 2013 sang mô hình tinh gọn 33 tổ với 318 thành viên giai đoạn 2014 - 2015, bảo đảm 100% hộ nghèo tham gia sinh hoạt định kỳ và tạo số dư tiết kiệm lũy kế hơn 18,6 triệu đồng.

Thảo luận kết quả

Diễn tiến suy giảm tỷ lệ hộ nghèo và sự gia tăng quy mô nguồn quỹ tín dụng qua 24 năm có thể được minh họa trực quan thông qua bảng thống kê so sánh 4 giai đoạn và biểu đồ đường thể hiện đà tăng trưởng của Quỹ Xóa đói giảm nghèo từ 1,181 tỷ đồng lên 6,725 tỷ đồng. Sự thành công của Quận 5 bắt nguồn từ quyết tâm chính trị của cả hệ thống Đảng bộ, chính quyền và sự linh hoạt trong việc phát huy nguồn lực nội tại của cộng đồng người Hoa (chiếm 35% dân số) với thế mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại.

Tuy vậy, khi đối chiếu với các báo cáo đánh giá nghèo đô thị của Ngân hàng Thế giới và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), kết quả giảm nghèo theo chuẩn thu nhập của Quận 5 vẫn chứa đựng nhiều yếu tố thiếu bền vững. Ranh giới giữa hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo rất mong manh. Nợ quá hạn tại Quỹ 156 (hỗ trợ việc làm cho người bị thu hồi đất) lên tới 30%, và nợ quá hạn Quỹ Xóa đói giảm nghèo chiếm 18,06% tổng dư nợ. Hơn nữa, việc chỉ chú trọng tiêu chí tiền tệ đã làm lu mờ những thiếu hụt thực tế về diện tích nhà ở bình quân (dưới 8 m²/người) và chất lượng môi trường sống tại các khu dân cư đông đúc.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững theo chuẩn đa chiều đến năm 2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Chuyển đổi toàn diện quy trình nhận diện và quản lý hộ nghèo sang phương pháp đa chiều: Giai đoạn 2016 - 2020, Ban Chỉ đạo Giảm nghèo Quận 5 và Ủy ban nhân dân 15 phường cần áp dụng bộ công cụ đo lường 5 chiều 10 chỉ số thiếu hụt cho 100% hộ dân trên địa bàn. Mục tiêu là phân loại chính xác nguyên nhân nghèo đói, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa đồng bộ và chấm dứt tình trạng cắt giảm chính sách hỗ trợ ngay khi hộ dân vừa vượt chuẩn thu nhập.

  2. Đẩy mạnh giải pháp tạo việc làm và tái cấu trúc nguồn vốn tín dụng ưu đãi: Giai đoạn 2016 - 2025, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và Trường Trung cấp nghề Kỹ thuật Công nghệ Hùng Vương nâng quy mô vốn vay ưu đãi đạt trên 10 tỷ đồng/năm. Đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ nợ quá hạn của các quỹ tín dụng xuống dưới 3%, đồng thời tổ chức đào tạo nghề gắn với địa chỉ việc làm cho ít nhất 500 lao động nghèo mỗi năm.

  3. Tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và cải thiện nhà ở: Giai đoạn 2016 - 2020, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và ngành Y tế - Giáo dục Quận 5 bảo đảm duy trì tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 100% cho cả hộ nghèo và hộ cận nghèo. Cung cấp học bổng và miễn giảm 100% học phí cho học sinh nghèo, kết hợp chi trả trợ cấp xã hội thường xuyên cho 100% hộ nghèo diện bảo trợ không có khả năng lao động, đồng thời hoàn thành sửa chữa 100% nhà ở dột nát, ngập úng.

  4. Phát huy nguồn lực xã hội hóa và nâng cao năng lực Tổ tự quản giảm nghèo: Giai đoạn 2016 - 2025, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Quận 5 chủ trì vận động Quỹ Vì người nghèo đạt từ 3 đến 5 tỷ đồng/năm. Khai thác thế mạnh kinh tế và mạng lưới tương trợ của cộng đồng doanh nghiệp người Hoa để giải quyết đầu ra cho các cơ sở sản xuất gia đình, kết hợp tập huấn chuyên môn định kỳ hàng quý cho 318 cán bộ nòng cốt thuộc 33 Tổ tự quản giảm nghèo tại cơ sở.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách an sinh xã hội: Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn về lộ trình chuyển đổi từ giảm nghèo đơn chiều sang đa chiều tại một quận đô thị trung tâm, hỗ trợ xây dựng khung tiêu chuẩn đo lường nghèo phù hợp với đặc điểm kinh tế thành thị.

  2. Ban Chỉ đạo giảm nghèo các quận, huyện và cán bộ chuyên trách cấp cơ sở: Đây là cẩm nang thực hành chi tiết về phương pháp quản lý dòng vốn tín dụng vi mô, kỹ năng điều tra khảo sát nhu cầu hộ dân và kinh nghiệm vận hành mạng lưới Tổ tự quản giảm nghèo tại từng khu phố, tổ dân phố.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Kinh tế chính trị, Xã hội học và Quản lý công: Đề tài cung cấp hệ thống số liệu chuỗi thời gian 24 năm (1992 - 2015) chuẩn xác, minh chứng sinh động cho việc vận dụng lý thuyết năng lực của Amartya Sen và quan điểm của Đảng về chính sách an sinh xã hội.

  4. Các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội doanh nghiệp và nhà tài trợ xã hội: Tài liệu giúp các nhà hảo tâm nắm bắt các chiều thiếu hụt cụ thể của người nghèo đô thị để thiết kế các chương trình tài trợ sinh kế, cấp phát học bổng và hỗ trợ y tế đúng đối tượng mục tiêu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao Quận 5 phải chuyển đổi phương pháp xác định hộ nghèo từ đơn chiều sang đa chiều? Phương pháp đơn chiều dựa vào thu nhập (chuẩn 16 triệu đồng/người/năm giai đoạn 2014 - 2015) không phản ánh được mức độ thiếu hụt về y tế, giáo dục, nhà ở và môi trường. Khi hộ dân vừa vượt qua mức thu nhập chuẩn, họ lập tức bị cắt các chính sách hỗ trợ, khiến nguy cơ tái nghèo tăng cao khi gặp rủi ro ốm đau hay thất nghiệp.

  2. Thành tựu giảm nghèo nổi bật nhất của Quận 5 giai đoạn 1992 - 2015 là gì? Quận 5 đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu an sinh qua cả 4 giai đoạn, tiêu biểu là việc xóa trắng 3.974 hộ nghèo giai đoạn 1992 - 2003 và đưa 90 hộ nghèo cùng 228 hộ cận nghèo giai đoạn 2014 - 2015 về mức 0% trước thời hạn 1 năm, huy động hơn 121,259 tỷ đồng vốn Quỹ Xóa đói giảm nghèo.

  3. Đặc thù dân cư ảnh hưởng như thế nào đến công tác giảm nghèo tại Quận 5? Với 35% dân số là người Hoa có truyền thống kinh doanh buôn bán và tinh thần tương trợ cao, Quận 5 đã bố trí điều tra viên biết tiếng Hoa để nắm bắt hoàn cảnh thực tế, đồng thời liên kết các cơ sở tiểu thủ công nghiệp của người Hoa để đào tạo nghề và giải quyết việc làm tại chỗ.

  4. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi đã hỗ trợ người nghèo Quận 5 đạt hiệu quả ra sao? Các nguồn quỹ như Quỹ Xóa đói giảm nghèo lãi suất 0,5%/tháng, Quỹ Ngân hàng Chính sách xã hội với dư nợ 9,550 tỷ đồng và Quỹ Quốc gia về việc làm đã cung ứng vốn kịp thời, giúp hàng ngàn lượt hộ nghèo chủ động mở rộng sản xuất kinh doanh và vươn lên thoát nghèo vững chắc.

  5. Mạng lưới Tổ tự quản giảm nghèo đóng vai trò gì trong quản lý an sinh xã hội cơ sở? Quận 5 duy trì 33 Tổ tự quản với 318 thành viên tại 15 phường, thu hút 100% hộ nghèo sinh hoạt. Tổ tự quản trực tiếp theo dõi biến động thu nhập, hỗ trợ xét duyệt và thu hồi vốn vay, tích lũy số dư tiết kiệm hơn 18,6 triệu đồng và chia sẻ kinh nghiệm làm ăn trong cộng đồng.

Kết luận

  • Luận văn đúc kết toàn diện chặng đường 24 năm (1992 - 2015) thực hiện chính sách an sinh xã hội tại Quận 5, ghi dấu ấn nổi bật khi hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 9,9% về 0%.
  • Công trình chứng minh tính tất yếu của việc chuyển dịch phương thức đo lường từ đơn chiều sang đa chiều theo 5 chiều và 10 chỉ số thiếu hụt cơ bản của Chính phủ.
  • Đánh giá vai trò then chốt của nguồn vốn tín dụng chính sách với quy mô tích lũy 121,259 tỷ đồng và hiệu quả hoạt động của 33 Tổ tự quản giảm nghèo tại 15 phường.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về vốn, đào tạo nghề, bảo trợ xã hội và vận động cộng đồng theo lộ trình phát triển giai đoạn 2016 - 2025.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật và cơ sở thực tiễn giá trị cho công tác hoạch định chính sách kinh tế - xã hội tại đô thị loại đặc biệt.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là xây dựng luận cứ khoa học vững chắc giúp Quận 5 triển khai hiệu quả chương trình giảm nghèo đa chiều bền vững đến năm 2025. Trong giai đoạn tiếp theo, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên trách cần khẩn trương số hóa dữ liệu quản lý hộ nghèo và lồng ghép đồng bộ các nguồn lực an sinh xã hội. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý hãy chủ động tham khảo chi tiết toàn văn công trình để cùng chung tay hiện thực hóa mục tiêu phát triển đô thị nghĩa tình, văn minh, bảo đảm không một người dân nào bị bỏ lại phía sau.