Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 – 2025 và định hướng đến năm 2030. 9 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1.
Những vấn đề chung nhất về hộ kinh doanh 1. Khái niệm hộ kinh doanh Hiện nay có nhiều cách tiếp cận về HKD nên khó có thể đưa ra một định nghĩa về HKD và khó có thể nói HKD mang bản chất là cá nhân kinh doanh, thương nhân đơn lẻ, cụ thể là: Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 66 của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký DN thì HKD được định nghĩa: “1. Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập DN theo quy định”.53] Theo quy định trên cho thấy HKD không hoàn toàn là cá nhân kinh doanh mà có thể do một nhóm người hùn vốn cùng hợp tác sản xuất kinh doanh với nhau.
Cho nên, khi giải quyết tranh chấp về HKD nói chung, cần chú ý tới HKD được tạo lập nên bởi một cá nhân hay một hộ gia đình hay một nhóm người để đưa ra các giải pháp thích hợp. Nghiên cứu về HKD, chúng ta cũng cần so sánh HKD với DN tư nhân. Trước đây theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 66-HĐBT ngày 02 tháng 3 năm 1992 về “cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định quy định trong Nghị định số 221-HĐBT ngày 23 tháng 10 Luan van 07 năm 1991” thì người kinh doanh dưới mức vốn pháp định được hiểu là những chủ thể kinh doanh có mức vốn thấp hơn vốn pháp định quy định cho DN tư nhân trong cùng ngành nghề kinh doanh. Khi Luật Doanh nghiệp ban hành, vấn đề vốn pháp định đối với DN tư nhân đã có sự thay đổi cơ bản, theo đó chỉ DN tư nhân, công ty hoạt động trong một số ngành nghề nhất định phải thỏa mãn điều kiện vốn pháp định.
Quy định này đã làm thay đổi cách hiểu về cá nhân và nhóm kinh doanh, vốn pháp định không còn là căn cứ để phân biệt giữa cá nhân và nhóm kinh doanh với DN tư nhân trong mọi ngành nghề như trước nữa. Theo Khoản 4 Điều 170 Luật DN năm 2005, quy định: “Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 (mười) lao động trở lên phải đăng ký thành lập DN hoạt động theo quy định của Luật này. Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ”.115] Đến Luật DN năm 2014 vẫn tiếp tục giữ nguyên nội dung quy định về HKD như trên tại Khoản 2 Điều 212. Điều này cho thấy, HKD có bản chất của DN nhưng kinh doanh với quy mô nhỏ, giống với loại hình DN nhỏ.
DN siêu nhỏ là một loại hình của HKD nhỏ, sử dụng dưới 10 lao động. Các quy định của pháp luật hiện hành không xác định “tư cách HKD” cho HKD cá thể. Điều này ảnh hướng đến địa vị pháp lý, hạn chế thẩm quyền của loại chủ thể này trong một số lĩnh vực so với DN (như lựa chọn ngành, nghề kinh doanh; giao kết hợp đồng kinh tế, tham gia quan hệ đầu tư trực tiếp với nước ngoài. Tuy nhiên cần phải thấy HKD là một thuật ngữ có nhiều nghĩa khác nhau, như Điều 132 Bộ luật Dân sự Nga năm 1994 xem HKD là một tổ hợp tài sản sử dụng cho một hoặc một số hoạt động thương mại nhất định.
Pháp luật của các nước theo Civil Law cũng có quan niệm tương tự như vậy. Ở Hoa 11 Luan van Kỳ, thuật ngữ HKD đôi khi được sử dụng để chỉ toàn bộ các thực thể kinh doanh không kể tới quy mô và phạm vi của chúng. Vậy không thể không xem thuật ngữ HKD là HKD theo pháp luật Việt Nam quy định vì nó cũng là một thực thể hay một hình thức kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh. Xét từ nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của HKD, có thể thấy HKD có bản chất là thương nhân.
Nếu HKD do một cá nhân làm chủ thì có thể coi đó là thương nhân thể nhân. Mặt khác, HKD do một hộ gia đình hoặc một nhóm người làm chủ thì khó có thể coi đó là thương nhân thể nhân hay thương nhân pháp nhân mặc dù nó cũng được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ pháp lý.1: So sánh DN tƣ nhân và HKD Tiêu chí DN tƣ nhân HKD Tƣ cách Không có tư cách pháp nhân pháp nhân Chủ Hộ Chịu trách nhiệm vô hạn đối với các quyền và nghĩa vụ của kinh doanh DN tư nhân, HKD Nhỏ hơn DN tư nhân, là hình Quy mô nhỏ nhưng lớn hơn thức kinh doanh do một cá Quy mô HKD. Có thể do cá nhân nhân hoặc một nhóm người là kinh doanh nước ngoài làm chủ người Việt Nam hoặc một hộ gia đình làm chủ. Dưới 10 lao động, nếu trên Số lƣợng Không giới hạn số lượng 10 lao động phải đăng ký ngƣời lao động lao động thành lập DN Điều kiện Phải có Giấy đăng ký kinh Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh doanh, có con dấu HKD 12 Luan van Người Việt Nam, có thể là người nước ngoài, thỏa mãn Chủ thể các điều kiện về hành vi Phải là người Việt Nam thành lập thương mại do pháp luật nước đó quy định Loại hình Được phép kinh doanh xuất, Không được phép kinh doanh kinh doanh nhập khẩu xuất nhập khẩu Cơ cấu tổ Cơ cấu tổ chức, quản lý ở DN tư nhân chặt chẽ hơn ở HKD chức, quản lý Nguồn: Trang Thư viện Pháp luật, 2016 Từ những lý luận nói trên, học viên tạm thời đưa ra khái niệm về HKD như sau: Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình là người Việt Nam làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của hộ kinh doanh.
Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ, chỉ sử dụng dưới 10 lao động, thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ. Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân và không được phép kinh doanh xuất, nhập khẩu. Phân loại hộ kinh doanh Từ những phân tích định nghĩa về HKD nói trên, cho thấy HKD được chia thành ba loại căn cứ vào chủ thể tạo lập ra nó: (1) HKD do một cá nhân làm chủ; (2) HKD do một nhóm người làm chủ; (3) HKD do hộ gia đình làm chủ. Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ 13 Luan van Cá nhân kinh doanh ở đây được hiểu là từng người cụ thể, là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được quyền đăng ký thành lập HKD.
Trong hoạt động kinh doanh cá nhân này phải nhân danh mình và tự chịu trách nhiệm về các hành vi thương mại của mình. Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ Đây là một chủ thể kinh doanh rất riêng của Việt Nam từ truyền thống đặc trưng của dân tộc Việt Nam, bởi vì đa phần các quốc gia trên thế giới không thừa nhận hộ gia đình là một thực thể được tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh giống như một thương nhân, hoặc một công ty. Việc quy định “hộ gia đình” được kinh doanh dưới hình thức HKD như trên vừa nói có lẽ xuất phát từ việc Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “hộ gia đình” là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Tại Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất, nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”.27] Hộ gia đình là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam vì hộ gia đình không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân mà tập hợp các thành viên có tài sản chung.
Do đó, HKD không hoàn toàn là thương nhân. Trước đây, theo Nghị định số 27-HĐBT ngày 09 tháng 3 năm 1988 thì hộ cá thể và hộ tiểu công nghiệp (hình thức đầu tiên của HKD) là thương nhân thể nhân. Theo pháp luật hiện hành, khái niệm về hộ gia đình chưa xác định rõ các điều kiện hay các tiêu chí xác lập một hộ gia đình. Tập hợp các thành viên của hộ gia đình cũng không dễ xác định.
Dấu hiệu của một gia đình được thể 14 Luan van hiện qua quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng. Xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam cũng như căn cứ vào quy định của pháp luật, thông thường các thành viên trong hộ gia đình phải có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng; cùng cư trú ở một nơi, có cùng hoạt động kinh tế chung trên một sản nghiệp chung. Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng như Bộ luật dân sự năm 2015 chưa có quy định rõ ràng về việc xác định tư cách thành viên hộ gia đình. Việc xác định tư cách thành viên Hộ gia đình là rất quan trọng.
Bởi lẽ, từ đó xác định được các quyền sở hữu khối tài sản chung và nghĩa vụ liên đới phát sinh nếu có rủi ro trong giao dịch. Tuy nhiên, số lượng các thành viên trong hộ gia đình có thể thay đổi và hầu như chỉ thỏa thuận riêng bằng miệng với nhau trên tinh thần tình cảm, không có cơ sở pháp lý rõ ràng nên khi xảy ra tranh chấp rất khó giải quyết.