CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CỤM CÔNG NGHIỆP 1.1 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với các cụm công nghiệp 1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ 1.1 Khái niệm về cụm công nghiệp Cụm công nghiệp là môt khái niệm khá quen thuộc, đã xuất hiện nhiều trong nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, do những cách tiếp cận khác nhau, do những sự khác biệt về trình độ nền sản xuất công nghiệp cũng như các điều kiện kinh tế xã hội, đã dẫn tới có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về cụm công nghiệp. Theo quan điểm của Michael E. Porter, “Cụm công nghiệp là nơi tập trung về mặt địa lý của các công ty và các thể chế có quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau trong một lĩnh vực nào đó, ở một cụm vực đia lý có lợi thế cạnh tranh khác thường về lĩnh vực đó”.
Như vậy, quan điểm của M. Porter cho rằng cụm công nghiệp là nơi hội tụ những DN có quan hệ mật thiết và liên đới với nhau trong cạnh tranh, hoặc được mở rộng thành những DN cung cấp những sản phẩm bổ sung cho nhau. Porter kết luận, để phát huy lợi thế cạnh tranh, các DN hỗ trợ nên định vị gần nhau thành các cụm công nghiệp hỗ trợ chuyên ngành, hoặc những ngành sản xuất rất gần nhau về công nghệ, về nhu cầu lao động, từ đó hình thành nên các cụm công nghiệp. Trên thực tế, cụm công nghiệp là cụm vực tập trung các DN, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các DN nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh; do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thành lập.
Cụm công nghiệp hoạt động theo quy chế và các quy định của pháp luật liên quan. Luan van 7 Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không quá 50 (năm mươi) ha. Trường hợp cần thiết phải mở rộng cụm công nghiệp hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không vượt quá 75 (bẩy mươi lăm) ha. Như vậy, xét về quy mô diện tích thì cụm công nghiệp có quy mô trong khoảng 50ha đến 75ha.
Xét về loại hình, cụm công nghiệp có một số loại hình sau: - Cụm công nghiệp tổng hợp (đa ngành): Là cụm công nghiệp được hình thành trên địa bàn các huyện, thành phố, thường do UBND cấp huyện thực hiện đầu tư và quản lý phát triển, nhằm thu hút đầu tư của các cơ sở sản xuất công nghiệp trong và ngoài địa phương. Cũng có một số cụm công nghiệp tổng hợp do một vài cơ sở sản xuất tự nguyện góp vốn, thành lập ban quản lý và triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng chung phù hợp với quy hoạch chi tiết đã được duyệt. - Cụm công nghiệp đơn ngành: Là cụm công nghiệp thường do một DN vừa hoặc lớn thuê diện tích cả cụm, tiến hành đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và nhà máy bao gồm nhiều nhà máy hoặc nhiều phân xưởng sản xuất thuộc DN như: cụm công nghiệp ô tô Đồng Vàng (Việt Yên); cụm công nghiệp Đoan Bái-Lương Phong (Hiệp Hoà); cụm công nghiệp Tân Dân (Yên Dũng). - Cụm công nghiệp làng nghề: Đây là mô hình cụm công nghiệp tập trung quy mô nhỏ, mục tiêu là phục vụ việc di dời các cơ sở sản xuất của làng nghề, xã nghề ở ngay tại địa phương, nhằm mở rộng mặt bằng sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường của làng nghề.
Các cụm công nghiệp làng nghề hầu như không có sự hiện diện của DN ngoài làng nghề. Ngoài ra có loại hình điểm công nghiệp, được hình thành tại một số địa phương miền núi, có công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển. Đó là ở một số khu vực có vị trí địa lý thuận lợi, địa phương khoanh vùng với diện tích không lớn (2-3 ha) thu hút nhà đầu tư vệ tinh và dự kiến trong tương lai có thể mở rộng, phát triển thành cụm công nghiệp.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp Khái niệm về quản lý Luan van 8 Theo “Đại Từ điển tiếng Việt” thì quản lý được hiểu: “1. Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan”, “2.
Trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì”. “Từ điển bách khoa Việt Bắc 3”, quản lý lại được hiểu là “chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó”. Như vậy, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận. Theo nghĩa chung, quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra.
Theo điều khiển học, “quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước”. Các Mác đã viết: “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” và để nhấn mạnh nội dung này, ông viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. Luận điểm trên của Mác có thể áp dụng với mọi hoạt động chung của con người, ở đâu có sự hiệp tác của con người thì ở đó cần có quản lý, quản lý tồn tại trong mọi quan hệ xã hội, ở bất cứ lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào, bởi vì hoạt động chung của nhiều người đòi hỏi phải được liên kết lại dưới nhiều hình thức.
Một trong những hình thức liên kết quan trọng là tổ chức, tổ chức là yếu tố quyết định đem lại hiệu quả cho quản lý, không có tổ chức thì không có quản lý. Mặt khác, quản lý để duy trì tính tổ chức, mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội, nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Minh chứng cho điều này, Lênin đã viết: “Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa”. Luan van 9 Để điều khiển, phối hợp hoạt động của những con người thì cần có những phương tiện buộc con người phải hành động theo những nguyên tắc nhất định, phải phục tùng những mệnh lệnh nhất định.
Cơ sở của sự phục tùng là uy tín hoặc quyền uy, uy tín đóng vai trò là cơ sở quan trọng của sự phục tùng nhưng quyền uy vẫn là cơ sở chủ yếu. Quyền uy là phương tiện rất quan trọng để chủ thể quản lý buộc đối tượng quản lý phải phục tùng, là yếu tố không thể thiếu của quản lý. Tóm lại, qua những phân tích nêu trên và dựa vào các tài liệu đã được công bố, ta có thể hiểu: quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện, cơ chế khác nhau, nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đặt ra, phù hợp với quy luật vận động khách quan của xã hội. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là một nội dung trong quản lý xã hội, là quản lý xã hội mang quyền lực nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện.
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước nhằm bảo đảm chấp hành pháp luật và các nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước để tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội, nói cách khác, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành - điều hành của nhà nước. Từ khi xuất hiện nhà nước thì phần quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm, tức là nhà nước đứng ra quản lý những quan hệ xã hội cơ bản nhất, bao trùm nhất của đời sống xã hội, đó chính là quản lý nhà nước. Cùng với chủ thể quản lý đặc biệt là nhà nước, tham gia vào quản lý xã hội còn có một số chủ thể khác như các tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo., tuy nhiên, đối tượng và phạm vi điều chỉnh nhỏ hẹp hơn nhiều.
Vì thế có thể coi quản lý xã hội là một khái niệm bao hàm quản lý nhà nước và quản lý phần công việc còn lại của xã hội. Quản lý nhà nước là quản lý xã hội do nhà nước thực hiện bằng bộ máy nhà nước, gắn với quyền lực nhà nước. Nội hàm của quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua Luan van 10 các giai đoạn lịch sử. Quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Thông qua ba hoạt động đặc thù này mà quản lý nhà nước có những điểm khác biệt so với quản lý xã hội khác, cụ thể là: - Quản lý nhà nước chỉ xuất hiện khi nhà nước xuất hiện. Khi nhà nước xuất hiện thì phần quan trọng các công việc của xã hội do nhà nước quản lý. - Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước. Bằng pháp luật, nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc các cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước.
- Chủ thể của quản lý nhà nước là các tổ chức hay cá nhân mang quyền lực nhà nước trong quá trình tác động tới đối tượng quản lý.