CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khu Công nghiệp và một số khái niệm liên quan a. Khu kinh tế [12] Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự, và thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất và Khu Kinh tế.
Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế. Khu kinh tế tự do là tên gọi chung cho các khu kinh tế được thành lập trong một quốc gia nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước bằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt. Trong khi khu kinh tế tự do là tên gọi phổ biến, thì một số nước có thể gọi theo cách khác. Chẳng hạn có thể gọi là khu kinh tế đặc biệt (hay đặc khu kinh tế), khu kinh tế mở, khu thương mại tự do hay thậm chí đơn giản chỉ là khu kinh tế, khu tự do.
Có những khu kinh tế có thể không mang tên gọi chính thức như một trong các tên gọi trên, nhưng vẫn có quy chế hoạt động như một khu kinh tế tự do. Trong một khu kinh tế tự do có thể gồm nhiều khu chức năng như khu vực phi thuế quan (khu vực bảo thuế), khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các khu du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí, khu dân cư, dịch vụ, khu Luan van 10 đô thị mới… Khu kinh tế ở Việt Nam là khu vực không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi và bình đẳng bao gồm: các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật – xã hội, các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ chế quản lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Theo quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất và Khu Kinh tế, một khu kinh tế phải có quy mô diện tích từ 10.000 ha (100 km2) trở lên. Khu Công nghiệp [12] - Khu Công nghiệp: Trên thế giới, khu công nghiệp được hiểu là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ công nghiệp phục vụ cho hoạt động sản xuất trong khu.
Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất và Khu Kinh tế, khu công nghiệplà khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất. Như vậy, có thể hiểu khu công nghiệp là một quần thể tập trung liên hoàn các xí nghiệp công nghiệp xây dựng trên một vùng có điều kiện thuận lợi về các yếu tố tự nhiên, về kết cấu xã hội… để thu hút vốn đầu tư (chủ yếu là đầu tư nước ngoài) và hoạt động theo một cơ cấu hợp lý các doanh nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp dịch vụ nhằm đạt kết quả cao trong sản xuất công nghiệp và kinh doanh. Sản phẩm của khu công nghiệp đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của thị trường nội địa.
So với hàng nhập khẩu, hàng ở khu công nghiệp có nhiều Luan van 11 lợi thế về chi phí vận tải, thuế (được ưu đãi thuế), thủ tục nhập khẩu… Nếu trong khu công nghiệp có các doanh nghiệp chế xuất thì nhà nước sở tại còn phải xem xét cả khả năng tạo điều kiện thuận lợi về xuất khẩu cho họ. Thủ tục đơn giản, nhanh chóng, đủ hấp dẫn các nhà đầu tư, quản lý và điều hành nhanh nhạy, ít đầu mối. + Có khả năng cung cấp nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu tương đối thuận lợi. + Có thị trường tiêu thụ sản phẩm.
+ Có khả năng đáp ứng nhu cầu lao động cả về số lượng lẫn chất lượng với chi phí tiền lương thích hợp. + Có khả năng xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi, hiệu quả, có đất để mở rộng và nếu có thể liên kết hình thành các cụm công nghiệp (industrial cluster). Quy mô khu công nghiệp và quy mô doanh nghiệp phải phù hợp với công nghệ gắn kết với kết cấu hạ tầng. - Khu Chế xuất: là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày14/3/2008 của Chính phủ quy định về Khu Công nghiệp, Khu Chế xuất và Khu Kinh tế.
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể, không có cư dân sinh sống và đều do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Khu Công nghệ cao Khu Công nghệ cao: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp có kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu – triển khai khoa học công nghệ - đào tạo các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Những vấn đề chung về thu hút FDI a. Khái niệm về FDI [10] Vốn đầu tư trong nền sản xuất hàng hóa là vốn tiền tệ được tích lũy của xã hội bằng nhiều nguồn, của các doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của nhân dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau được đưa vào sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, trong hoạt động kinh tế xã hội nói chung nhằm đạt hiệu quả nhất định.
Vốn đầu tư có thể huy động trong nước và cũng có thể huy động từ nước ngoài. Căn cứ vào các tiêu thức nhất định, người ta có thể phân chia đầu tư thành các loại: - Đầu tư cơ bản, đầu tư vận hành (theo đặc điểm hoạt động). - Đầu tư ngắn hạn, đầu tư dài hạn (theo thời gian chu chuyển). - Đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp (theo quan hệ của chủ đầu tư).
Trong đầu tư trực tiếp, người bỏ vốn ra đầu tư có thể là người trong nước và cũng có thể là người nước ngoài. FDI là nguồn vốn đầu tư tư nhân do các nhà đầu tư nước ngoài tự chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư, chịu trách nhiệm vay và trả nợ. Đây là nguồn vốn có tính chất “bén rễ” ở bản xứ nên không rút đi trong một thời gian ngắn. Ngoài ra, FDI không chỉ đầu tư vốn mà còn đầu tư công nghệ và tri thức kinh doanh nên dễ thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là dạng đầu tư trực tiếp do nguồn vốn từ bên ngoài mà chủ thể của nó là tư nhân hay Nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế được nước chủ nhà cho phép đầu tư vào những lĩnh vực nào đó của một nước nhằm thực hiện mục tiêu nhất định. Khái niệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Thu hút là việc tạo nên ấn tượng mạnh mẽ để các tổ chức, cá nhân quan tâm và dồn sự chú ý vào đối tượng cần thu hút. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng hợp nhiều hoạt động marketing nhằm đẩy mạnh thu hút FDI; tổ chức các hội thảo và phái đoàn vận Luan van 13 động đầu tư, tham gia các triển lãm, diễn đàn về thương mại – đầu tư; phân phát các tài liệu tuyên truyền, kêu gọi đầu tư; tổ chức các buổi tiếp xúc giữa các nhà đầu tư tiềm năng với các đối tác địa phương; trợ giúp nhà đầu tư khảo sát, hình thành dự án, phê duyệt và cấp giấy phép đầu tư, các hỗ trợ sau khi dự án đi vào hoạt động. Có thể khái quát thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng thể các biện pháp, hoạt động tích hợp nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến với các cơ hội đầu tư tại một quốc gia hay địa điểm nào đó.
Đặc điểm của FDI [10] - Đây là hình thức đầu tư chủ yếu bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Đầu tư theo hình thức này không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần về kinh tế cho nước tiếp nhận vốn đầu tư, hơn nữa còn đem lại tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao. - Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình, chính tỷ lệ góp vốn pháp định sẽ quy định việc phân chia quyền lợi và trách nhiệm cũng như phân chia lợi nhuận và rủi ro giữa các chủ đầu tư. Đối với hoạt động FDI ở Việt Nam, Luật Đầu tư cho phép chủ đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và được tham gia liên doanh để thành lập pháp nhân thực hiện dự án.
Trong khi đó ở nhiều nước khác trong khu vực, khi tham gia liên doanh, chủ đầu tư nước ngoài chỉ được góp vốn cổ phần nhỏ hơn hoặc bằng 49%, 51% còn lại do nước chủ nhà nắm giữ. - Thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý… mà các hình thức đầu tư khác không đáp ứng được.