CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHUNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm, biểu hiện và đặc điểm của làng nghề truyền thống 1. Khái niệm làng nghề truyền thống Lịch sử phát triển của làng nghề Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, sự tồn tại và phát triển của làng nghề đồng hành với quá trình phát triển của làng, xã nông thôn, và trong một số trường hợp, là các đô thị của Việt Nam.
Đó là một quá trình tích lũy kinh nghiệm lâu đời của những người thợ, quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và thành thị mà qua đó không ít làng nghề đã có lịch sử phát triển hàng ngàn năm và được truyền qua nhiều thế hệ. Đến đầu thế kỷ XI sản phẩm làng nghề nước ta bắt đầu xuất khẩu và phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ XIII. Nhiều làng nghề là những chứng tích kinh tế, văn hoá quan trọng, thậm chí có nghề được nâng lên thành “di sản vật thể”. Đến nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm khác nhau về làng nghề truyền thống, song những quan niệm sau đây được nhiều người quan tâm và chấp nhận nhất: Quan niệm thứ nhất: Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng, làng nghề được hiểu là một địa phương trong khi vẫn một số nghề phụ khác (đan lát, làm tương, làm đậu phụ…) song nổi trội về một nghề cổ truyền, tinh xảo với một lực lượng lao động thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường hội (cơ cấu tổ chức), có ông Trùm, ông Phó cả.cùng một số thợ và phó nhỏ làm việc chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng có tính mỹ thuật, đã trở thành sản phẩm hàng hoá.
Quan niệm thứ hai: Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng thì làng nghề 8 là làng cổ truyền làm nghề thủ công, dù ở đó không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công và người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân). Tuy nhiên, do yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất truyền thống ngay tại làng quê của mình hay ở làng nghề, phố nghề nơi khác. Nói đến làng nghề thủ công truyền thống tức là nói nhiều mặt, trong cả không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất và thủ pháp nghệ thuật [39, tr. Quan niệm thứ ba: Theo Tiến sĩ Dương Bá Phượng thì làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập [23, tr.
Như vậy có hai yếu tố của làng nghề là “làng” và “nghề”, trong đó nghề thủ công đã tách ra khỏi ngành nông nghiệp và kinh doanh độc lập. Quan niệm thứ tư: Một số nhà nghiên cứu cho rằng làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân trong nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề, giữa các hộ có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội có cùng tổ nghề. Những quan niệm nêu trên đã phần nào cho thấy các đặc trưng cơ bản, song đều chưa phản ánh đầy đủ tính chất, đặc điểm của làng nghề, chưa thể hiện được sự khác biệt giữa làng nghề nông thôn với những trung tâm sản xuất thủ công nghiệp ở thành thị, thị trấn. Về mặt pháp lý, Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống, theo đó: Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính chất riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một hoặc thất truyền.
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các 9 hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời tại địa phương từ trên 50 năm và hiện đang được tiếp tục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận; nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Làng nghề truyền thống phải có đủ 3 dấu hiệu quy định tại mục 3, Điều 5 Nghị định số 52/2018/NĐ-Chính phủ, ngày 12/4/2018 của Chính phủ [29, tr. Từ các quan niệm trên cho thấy làng nghề được cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề.
Song, không phải bất cứ quy mô nào của nghề trong làng cũng gọi nó là làng nghề mà việc công nhận làng nghề ở đây phải xét đến cả hai mặt là định lượng và định tính. Xét về mặt định lượng thì một (hay nhiều) nghề trong làng phải phát triển đạt đến một quy mô nhất định và có tính ổn định, lâu dài vì điểm xuất phát của làng nghề là làng gắn với nông nghiệp nên quy mô làm nghề của làng đó phải phát triển đến mức độ nhất định mới được gọi là làng nghề. Xét về mặt định tính thì đặc điểm của làng nghề phải có sự khác biệt so với làng thuần nông hoặc so với phố nghề của thành thị. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trong làng nghề các công nghệ sản xuất của nhiều nghề không còn hoàn toàn là thủ công mà có nhiều nghề, nhiều công đoạn sản xuất theo quy trình hiện đại được áp dụng những kỹ thuật tiên tiến với những máy móc hiện đại thay cho sức người với độ tinh xảo kỹ thuật cao, đồng thời trong làng nghề xuất hiện nhiều hộ, nhiều cơ sở chuyên làm dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho các hộ, các cơ sở chuyên làm nghề.
Do vậy, việc xác định sự phát triển của làng nghề phải tính đến quy mô làng về số hộ, số cơ sở, số lao động tham gia vào các nghề, trình độ kỹ thuật của làng nghề, thị trường đầu vào, đầu ra cho làng nghề, thu nhập từ hoạt động kinh tế của làng nghề, hoạt động xã hội của làng nghề… 10 1. Phân loại làng nghề truyền thống ở Việt Nam Làng nghề ở nước ta rất phong phú và đa dạng. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và nhu cầu quản lý có các cách phân loại làng nghề khác nhau. Tuy nhiên, tựu trung lại có những cách phân loại làng nghề phổ biến như sau: - Phân loại theo thời gian hình thành và phát triển của làng nghề: Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành lâu đời, trải qua thử thách thời gian vẫn được duy trì, phát triển và được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Sản phẩm của làng nghề truyền thống có tính độc đáo, riêng biệt và đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo cao được truyền nghề từ đời này sang đời khác, trước hết là sự truyền nghề ở trong nội bộ dòng tộc. Theo cách phân loại này có các làng nghề như làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), làng nghề tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), làng nghề đúc lư hương ở Tân Hoà Đông (thành phố Hồ Chí Minh), làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, thành phố Đà Nẵng. - Phân loại theo cách thức tổ chức sản xuất, theo số lượng nghề: Theo cách phân loại này có làng chuyên nghề và làng đa nghề. + Làng chuyên nghề là những làng nghề mà ngoài nghề nông ra có nhiều hộ trong một làng cùng tham gia làm một nghề khác với trình độ chuyên môn hoá cao, mang tính chất truyền nghề từ đời này sang đời khác, gọi là “nghề của làng”, ví dụ như làng dệt Thái Phương (Hưng Hà, Thái Bình), làng Chạm bạc Đồng Xuân (Kiến Xương, Thái Bình), làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp (Ninh Thuận)… Làng chuyên nghề mang tính chất truyền nghề, vì vậy việc tổ chức sản xuất thường theo hộ gia đình hoặc theo dòng họ.
Các hộ gia đình trong làng chuyên nghề tự lo địa điểm, công cụ sản xuất, bố trí lao động.song thường có sự liên kết nhau theo nhóm, trong một nhóm có hộ đứng ra làm vai trò trung tâm. Sự liên kết của các nhóm dựa trên cơ sở lợi ích kinh tế, dưới các hình thức như mua nguyên liệu, bán thành phẩm, gia công từng công đoạn hoặc toàn bộ quy trình công nghệ để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Hiện nay, trong làng chuyên nghề phần lớn các hộ đứng ra làm vai trò trung tâm, trong đó nhiều hộ làm các công 11 việc khép kín toàn bộ quá trình sản xuất, tái sản xuất, còn một số hộ chỉ làm dịch vụ một hoặc hai khâu trong các công đoạn sản xuất. Làng chuyên nghề đòi hỏi công nghệ sản xuất tương đối phức tạp, thường có bí quyết nghề nghiệp, mang tính chất “truyền nghề” nhiều hơn là “dạy nghề”.
Vì vậy, trong làng thường xuất hiện đội ngũ “thợ đầu đàn”, “thợ cả” hay “nghệ nhân” có khả năng hướng dẫn kỹ thuật, truyền nghề, sáng tác mẫu mã mới hoặc cải tiến những khâu quan trọng. + Làng đa nghề là những làng nghề mà ngoài nghề nông còn có một số hoặc nhiều nghề sản xuất, kinh doanh khác. Làng đa nghề cũng được tổ chức theo dòng họ, chòm xóm hoặc một số người có cùng một tay nghề tương đương. Thông thường làng đa nghề có quy mô sản xuất nhỏ, sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, sản phẩm làm ra tiêu thụ ở thị trường địa phương, thậm chí làm ngày nào bán ngày đó.
Vì vậy, hộ là đơn vị sản xuất khép kín, tự mua nguyên liệu, tự hoạch toán, tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác, do đặc điểm của làng đa nghề nên người lao động không đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và sự hợp tác giữa các thành viên trong làng không đòi hỏi chặt chẽ. - Phân theo trình độ kỹ thuật của làng nghề: Theo cách phân loại này có làng nghề làm nghề có kỹ thuật đơn giản và làng nghề làm nghề có kỹ thuật phức tạp. + Làng nghề làm nghề có kỹ thuật đơn giản như: đan lát, chế biến lương thực, thực phẩm, làm gạch, nung vôi.
Sản phẩm của các làng nghề này có tính chất thông dụng, loại làng nghề này phù hợp với nền kinh tế tự cung, tự cấp.