Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý vốn NSNN cho ĐTPT CSHT nông nghiệp 1. Lý luận trung về ĐTPT CSHT nông nghiệp 1. Khái niệm đầu tư Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu hút được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kế quả đó [Giáo trình kinh tế đầu tư, 2010].
Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội. Theo định nghĩa của Luật Đầu tư: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản và tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đặc điểm, khái niệm của ĐTPT CSHT nông nghiệp - Đặc điểm về ĐTPT CSHT nông nghiệp Thứ nhất, hệ thống CSHT phục vụ SXNN thường trải trên một địa bàn rất rộng lớn, hệ thống này phục vụ cho rất nhiều đối tượng ngành nghề khác nhau cùng sử dụng nên nó phải mang tính phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội rất cao.
Tức là tính chất hàng hóa công cộng rất cao, đa mục đích vì rất nhiều loại đối tượng cùng sử dụng và khai thác lợi ích hệ thống cơ sở hạ tầng này, ví dụ như: các doanh nghiệp, xí nghiệp thuộc mọi ngành nghề sản xuất kinh doanh (SXKD), mọi cá nhân từ các thành phần kinh tế khác nhau,… đều có nhu cầu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 sử dụng đường giao thông, điện, nước,… cho sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt đời sống. Thứ hai, kết cấu CSHT có tính hệ thống cao, vì kết cấu CSHT là một hệ thống liên kết phức tạp trên phạm vi cả nước không chỉ riêng cả ngành SXNN, với mức độ ảnh hưởng cao thấp khác nhau tới sự phát triển KT-XH của vùng nông thôn tới tận làng, xã. Các bộ phận này có mối liên kết với nhau trong khi tham gia vào hoạt động khai thác hiệu quả trong SXKD nông nghiệp nông thôn. Việc xây dựng và phát triển CSHT phải dựa trên quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, kết cấu CSHT phải được kết hợp đồng bộ giữa các loại CSHT với nhau, đảm bảo việc giảm chi phí và tăng hiệu quả sử dụng các công trình hạ tầng đa mục đích.
Phát huy lợi thế tiềm năng của từng vùng kinh tế và liên vùng trong cả nước. Sự hợp lý trong tổ chức sản xuất - xã hội của các ngành tạo ra sự tập trung hợp lý các nhu cầu riêng, là điều kiện cho chuyên môn hóa các hoạt động dịch vụ sản xuất. Ngoài ra, sự phát triển nền kinh tế hàng hóa, với sự mở rộng phạm vi kinh doanh ra ngoài phạm vi các lãnh thổ hẹp, truyền thống, ngoài phạm vi quốc gia, cũng cần hàng loạt các nhu cầu giao lưu trao đổi hàng hóa dịch vụ, thương mại, tài chính, ngân hàng, thông tin,… Những nhu cầu trên đây ở thời đại phát triển của khoa học kỹ thuật cho phép được đáp ứng bằng các CSHT dịch vụ hiện đại mà từng cơ sở SXKD không thể nào đáp ứng được một cách có hiệu quả, phải cần có sự kết nối thống nhất của hệ thống CSHT. Thứ ba, tạo ra một hệ thống kết cấu cơ sở đồng bộ, hiện đại cho đời sống KT-XH cũng là nhằm mục đích tổ chức khai thác và phân phối lợi ích tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý công bằng cho mọi thành viên trong cộng đồng, tạo sự phát triển đồng đều thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, tạo đà phát triển đi lên một cách bền vững của toàn bộ nền KT- XH.
- Khái niệm về ĐTPT CSHT nông nghiệp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 Là đầu tư xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ, có chức năng trung gian đảm bảo sự di chuyển của luồng thông tin, vật chất nhằm phục vụ các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng cho xã hội. ĐTPT CSHT trong nông nghiệp cũng được hiểu là việc thiết lập một mối quan hệ gắn kết bên trong của các nhân tố cấu trúc nhằm tạo ra được một sự hợp nhất để hỗ trợ phát triển cho toàn bộ cấu trúc đó, thì CSHT là sự phân giao những dịch vụ cần thiết như là cấp nước và vệ sinh môi trường, thuỷ lợi, giao thông, năng lượng và công nghệ thông tin,. mà những cái đó là cơ sở nền tảng cho phát triển KT-XH của bất kỳ đất nước nào nói chung và riêng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp (SXNN) và nông thôn. Tóm lại, thuật ngữ ĐTPT CSHT nông nghiệp là đầu tư phát triển một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cơ bản và dịch vụ, làm cơ sở nền tảng cho một đất nước, vùng hoặc một tỉnh đảm bảo cho hoạt động SXNN đạt hiệu quả cao, đủ sức tái sản xuất mở rộng của toàn bộ nền KT-XH của một quốc gia cũng như đủ sức hội nhập vào nền SXKD thế giới.
Đặc điểm ĐTPT CSHT nông nghiệp bằng nguồn vốn NSNN Đầu tư các công trình hạ tầng từ nguồn vốn NSNN là từ nguồn vốn tích lũy của Nhà nước nhằm mục đích làm thay đổi phương thức sản xuất lạc hậu bằng nền sản xuất hiện đại có năng xuất, chất lượng, hiệu quả cao, đảm bảo nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa nông, lâm thủy sản trên thị trường trong và ngoài nước. Vốn đầu tư được xem là ngân sách nhà nước (hoặc được coi là nguồn ngân sách nhà nước), bao gồm: Vốn từ ngân sách nhà nước cấp; Vốn đầu tư phát triển; vốn tín dụng đầu tư của phát triển nước bảo lãnh; vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước; Vốn đầu tư nước ngoài gồm vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn các tổ chức phi chính phủ (NGO) nhưng thông qua chính phủ, vốn vay của các tổ chức tài chính thế giới mà nhà nước đứng ra bảo lãnh vay hoặc cho vay lại để đầu tư đều được xem là nguồn vốn có nguồn gốc NSNN. Các công trình hạ tầng dịch vụ đầu tư cho mục tiêu phát triển công cộng như: đường giao thông, trường học, trạm xá, điện, thủy lợi, cấp nước,… thường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 khó thu hồi vốn và cần được nhà nước đầu tư bằng ngân sách. Các công trình đầu tư phục vụ trực tiếp cho các hoạt động SXNN, nông thôn hiện nay vẫn đang được nhà nước đầu tư và đang có xu hướng chuyển dần sang hình thức xã hội hoá nhà nước và nhân dân cùng làm.
Nhà nước cần chuyển sang khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân tự bỏ vốn đầu tư nâng cấp, duy tu bảo dưỡng vào những công trình lớn của nhà nước trước đây cũng như đầu tư xây dựng mới để tự thân các nhà đầu tư tự lo đầu tư kinh doanh và chịu rủi ro với đồng vốn họ bỏ ra. Nhà nước chỉ là người quản lý giám sát quá trình đầu tư không trực tiếp tham gia vào quá trình đầu tư CSHT cho SXNN, thực hiện đẩy nhanh quá trình xã hội hóa về đầu tư công trình hạ tầng cho SXNN nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Chính sự điều tiết của thị trường và các chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước sẽ hướng tới việc sử dụng vốn hiệu quả, tiết kiệm hơn cho các nhà đầu tư, từ đó hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý, có nghĩa sẽ khuyến khích người có vốn trong và ngoài nước (đặc biệt là tư nhân) là chủ đầu tư không chỉ đầu tư cho lĩnh vực sinh lãi nhanh ít rủi ro như thương mại, mà vẫn đầu tư cho lĩnh vực SXKD, CSHT, khoa học kỹ thuật là những lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn, rủi ro cao nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, hoặc không chỉ đầu tư tài chính, đầu tư chuyển dịch mà còn ĐTPT CSHT. Dựa vào đặc điểm lợi thế và tiềm năng của từng vùng kinh tế nông nghiệp thì ĐTPT CSHT sẽ ưu tiên cho loại hạ tầng nào tạo điều kiện phát huy cao độ lợi thế và tiềm năng của vùng, qua đó có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình hình phát triển KT-XH của từng địa bàn theo chiều hướng ngày càng phát triển bền vững.
Đây cũng là đặc điểm riêng của hoạt động đầu tư cho SXNN. Xu hướng ĐTPT CSHT nông nghiệp, thì nhà nước chỉ giữ vai trò chủ quản lý, kiểm tra giám sát, xây dựng chính sách đầu tư thông thoáng phù hợp để huy động các thành phần kinh tế khác tham gia ĐTPT và quản lý khai thác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 CSHT phục vụ SXNN. Vì vậy nội dung “giám sát và đánh giá hiệu quả KT- XH của các công trình dự án đầu tư CSHT nông nghiệp” đã trở thành một yêu cầu cấp thiết, trở thành công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu nhất để quản lý, giám sát các dự án đầu tư CSHT nông nghiệp, làm cơ sở đề ra những quyết sách đầu tư thích hợp. Quản lý vốn đầu tư từ NSNN 1.
Khái niệm Quản lý VĐT từ NSNN là hoạt động tác động của chủ thể quản lý (Nhà nước) lên các đối tượng quản lý (VĐT, hoạt động sử dụng VĐT) trong điều kiện biến động của môi trường để nhằm đạt được các mục tiêu nhất định. Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ thì “Đối với các dự án sử dụng vốn NSNN kể cả các dự án thành phần, nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác, sử dụng” [Chính phủ, 2009].