CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TẠI ĐỊA PHƯƠNG CẤP HUYỆN 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Làng nghề Làng xã Việt Nam phát triển rất lâu đời, nó thường được gắn chặt với nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Ngay từ đầu, trong một làng phần lớn người dân làm nông nghiệp, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội trong làng xuất hiện một bộ phận dân cư sống bằng nghề khác. Người dân liên kết với nhau tạo thành một tổ chức nghề nghiệp trong làng tạo thành các làng nghề, phường nghề, xã nghề gắn với từng địa phương. Trong làng xuất hiện những người chuyên làm nghề và những người vừa làm nông nghiệp và vừa làm nghề (nghề phụ).
Tuy nhiên, do nhu cầu của khác hàng về sản phẩm của làng nghề ngày một cao đòi hỏi tính chuyên môn của các nghề cũng tăng theo. Chính vì vậy, xu hướng người lao động tách khỏi đồng ruộng để làm nghề thủ công và xác định sống, làm giàu bằng nghề này ngày một nhiều. Trong quá trình phát triển hội nhập kinh tế quốc tế, làng nghề có nhiều cơ hội phát triển để đưa các sản phẩm thủ công truyền thống ra thị trường thế giới. Đồng thời, làng nghề cũng được nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu, đầu tư phát triển.
Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về “làng nghề”. Sau đây là một số quan niệm phổ biến: Thứ nhất: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu. Với quan niệm này thì hiện nay làng nghề không còn nhiều. Thứ hai: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu hội, phường, theo kiểu doanh nghiệp nhỏ và vừa, có cùng tổ nghề.
Song với quan niệm này nó chưa phản ánh đầy đủ tính chất của làng nghề. Luan van 7 Thứ ba: Theo giáo sư Trần Quốc Vuợng thì “làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương. song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công.
Một số nhà nghiên cứu khác lại đưa ra quan niệm làng nghề gắn với tiêu chí cụ thể về lao động, thu nhập. Tác giả Nguyễn Văn Đại, Trần Văn Luận cho rằng “Làng nghề là những làng đã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm”. Ngày nay, khi mà trên thế giới khu vực dịch vụ đóng vai trò quan trọng và trở thành lĩnh vực chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng, thì các nghề dịch vụ trong nông thôn cũng xếp vào các làng nghề. Như vậy, trong làng nghề sẽ có loại làng một nghề và làng nhiều nghề, tuỳ theo số lượng ngành nghề thủ công và dịch vụ có ưu thế trong làng.
Làng một nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại, hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có ở một vài hộ không đáng kể. Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỷ trọng các nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau. Trong nông thôn Việt Nam trước đây loại làng một nghề xuất hiện và tồn tại chủ yếu, loại làng nhiều nghề gần đây mới xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh. Từ các quan niệm trên đây, có thể khái quát về làng nghề như sau: Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một làng (thôn) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập.
Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng. Luan van 8 Chính vì vậy mà làng nghề có đặc điểm sau: - Làng nghề phát triển đa dạng trong nông thôn, một số làng nghề hoạt động kinh tế vẫn gắn chặt với sản xuất nông nghiệp. Do nhu cầu việc làm và thu nhập, người nông dân đã có nghề chính là làm ruộng, nghề phụ là nghề thủ công. Vì vậy, trong sự phát triển một số làng nghề tách dần khỏi nông nghiệp nhưng không tách rời khỏi nông thôn.
Thực tế ở nhiều làng nghề, người nông dân thường tự sản xuất, tự sửa chữa nhằm đáp ứng phần lớn nhu cầu hàng tiêu dùng của mình. Đại bộ phận các hộ chuyên làm nghề thủ công vẫn còn tham gia sản xuất nông nghiệp. Hầu hết các làng nghề vẫn còn một bộ phận ruộng đất và kinh tế nông nghiệp. - Làng nghề có sản phẩm mang tính đơn chiếc, độc đáo có tính mỹ thuật cao, là sản phẩm thủ công truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Các sản phẩm đều là sự kết giao phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Các sản phẩm thủ công thường mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Ví dụ cũng là đồ gốm nhưng có thể dễ dàng phân biệt được gốm Phù Lãng (Hải Dương) với gốm Thổ Hà (Bắc Giang) và gốm Bát Tràng (Hà Nội), tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương chứa đựng ảnh hưởng về văn hóa tinh thần, quan niệm về nhân vắn và tín ngưỡng tôn giáo dân tộc. - Thị trường tiêu thụ các sản phẩm của làng nghề trước kia thường nhỏ hẹp nhưng ngày nay thị trường tiêu thụ đã được mở rộng trong nước và trên thế giới.
Sự ra đời của các làng nghề là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương. Ngày nay các làng nghề đã phát triển sang các làng nghề khác trong xã, trong vùng, hình thành nên các cụm công nghiệp làng nghề (cụm công nghiệp làng nghề Đồng Quang, Đa Hội( Bắc Ninh), vùng nghề gốm sứ huyện Gia Lâm (Hà Nội)). Đặc biệt, các nghề thủ công truyền thống ngày càng mang tính xã hội cao. Phạm vi hoạt động kinh doanh của các làng nghề không chỉ dừng lại trong phạm vi quốc gia mà còn Luan van 9 vươn ra các nước trên thế giới.
Một số làng nghề đã tổ chức tìm kiếm thị trường xuất khẩu và chủ động tổ chức xuất khẩu sản phẩm của mình. - Công nghệ chủ yếu là thủ công nhưng ngày nay công nghệ đã được hiện đại hóa kết hợp với công nghệ truyền thống. Công cụ lao động trong các làng nghề thường mang tính đơn chiếc, sản phẩm dựa vào bàn tay khéo léo của người thợ thủ công. Trong cơ chế thị trường, sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống thủ công thô sơ với công nghệ hiện đại như: mô tơ điện, cưa máy, máy se sợi.
đã làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn. Với những tiến bộ của khoa học công nghệ, vừa phát huy được tinh hoa của công nghệ truyền thống, vừa phải liên tục đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động mà vẫn giữ được công nghệ truyền thống. - Nguyên liệu chủ yếu là có tại địa phương và vùng lân cận, nhưng ngày nay một số làng nghề còn nhập từ nước ngoài. Các làng nghề thường được hình thành xuất phát từ có sẵn nguồn nguyên liệu tại chỗ, đặc biệt là những làng nghề sản xuất sẩn phẩm tiêu dùng như mây tre đan, chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng.
Một số nghề sử dụng những nguyên liệu có sẵn là những phế liệu, phế phẩm, chế thải của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và đời sống sinh hoạt. Ngày nay cùng với sự phát triển và hội nhập, nhu cầu nguyên liệu lớn, một số làng nghề có nguồn nguyên liệu tại chỗ không thể đáp ứng được hoặc không có để đáp ứng nên phương thức cung ứng nguyên liệu cũng có sự thay đổi từ việc thu gom ở các địa phương khác đến việc nhập khẩu từ nước ngoài. - Lao động chủ yếu là thủ công và dạy nghề theo phương pháp truyền nghề. Lao động chủ yếu là nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo.
Hiện nay lao động của các làng nghề không chỉ bó hẹp trong phạm vi từng gia đình, dòng họ trong làng mà việc thuê mướn lao động đã phổ biến, hình thành thị trường lao động. Lao động trong các làng nghề trước đây được dạy theo phương thức truyền thống trong các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ trong phạm vi từng làng. Hiện nay, nhiều cơ sở quốc doanh, hợp tác xã làm các nghề truyền thống đã Luan van 10 tổ chức các lớp dạy nghề tập trung làm cho các bí quyết nghề nghiệp không còn như trước nữa. Trong nền kinh tế thị trường, việc phát triển mạnh kinh tế tư nhân và hộ gia đình đã phục hồi phương thức dạy nghề theo cách truyền nghề, kèm cặp của thợ cả đối với thợ phụ và thợ học việc.
Người thợ trong thời gian đào tạo vừa phải học, vừa phải làm. Đây là nét chung nhất trong đào tạo nghề truyền thống. Như vậy tầng lớp nghệ nhân và đội ngũ lao động lành nghề có vai trò rất to lớn đối với sự tồn tại và phát triển trong các làng nghề.2 Phát triển làng nghề Trong thời đại ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển. Raaman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội”.
Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm có ý nghĩa rộng hơn bao gồm những thuộc tính quan trọng liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là: “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với Nhà nước, với cộng đồng.” Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tựu trung lại các ý kiến đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người. Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân.