Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ THỦY ĐIỆN VỪA VÀ NHỎ CẤP TỈNH 1. Tổng quan về thủy điện vừa và nhỏ 1. Thủy điện vừa và nhỏ Vào những năm 1950, việc sản xuất năng lượng điện năng hầu hết (trên 90%) phụ thuộc lớn vào các nhà máy nhiệt điện. Cùng với sự phát triển của công nghệ, việc sử dụng nguồn tài nguyên sạch được quan tâm hơn nên các nhà máy nhiệt điện bị hạn chế sử dụng và các quốc gia quan tâm hơn đến nhà máy thủy điện, đặc biệt là nhà máy thủy điện vừa và nhỏ.
Thủy điện được ưu tiên trong việc tìm nguồn cung năng lượng điện nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ của các việc xây dựng và khai thác thông qua các công nghệ hiện đại, giúp đỡ rất nhiều trong việc đắp đập ngăn sông, sử dụng các tổ máy công suất lớn. Các công trình thủy điện vừa và nhỏ được xây dựng trên lưu vực các sông suối nhằm tận dụng sức nước ở đây. Hiện nay, việc phân loại thủy điện vừa và nhỏ là một khái niệm tương đối, tùy theo điều kiện thực tế của từng quốc gia. Ở Việt Nam, việc phân loại thuỷ điện đã được quy định dựa vào tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (TCXDVN số: 285-2002).
Từ đó, các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ được quy định có cấp công trình là cấp IV, cấp III và một phần cấp II. Trong đó: Từ 200 kW – 5000 kW là công trình cấp IV Từ 5000kW – 50MW là công trình cấp III Từ 50MW – 100MW là một phần công trình cấp 2.[6] Theo quy định tại Quyết định số 2394/QĐ-BCN ngày 01 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) về việc phân loại công suất lắp máy thủy điện nhỏ và siêu nhỏ trong tính toán quy hoạch phát triển các nguồn năng lượng tái tạo thì thủy điện nhỏ có công suất lắp máy lớn hơn hoặc bằng 1MW và nhỏ hơn hoặc bằng 30MW.[3] 10 n Từ đó, các công trình thủy điện nhỏ có công suất lắp máy lớn hơn hoặc bằng 1MW và nhỏ hơn hoặc bằng 30MW và các công trình thủy điện vừa có công suất lắp máy lớn hơn 30MW và nhỏ hơn hoặc bằng 100MW. Đặc điểm của thủy điện vừa và nhỏ Nhìn chung, thủy điện vừa và nhỏ vừa có những nét tương đồng vừa mang những đặc điểm rất khác biệt so với thủy điện lớn. Chính những đặc điểm này đã tạo nên những nét riêng cho dạng thủy điện này.
Thứ nhất, thủy điện vừa và nhỏ có quy mô thủy điện không lớn. Quy mô của các công trình thủy điện vừa và nhỏ thường là có các con đập hình thành không cao, khối lượng xây dựng công trình thủy điện nhỏ cùng với các đường hầm thấp và công suất lắp đặt của máy phát điện là dưới 30 MW. Tổ máy của thủy điện vừa và nhỏ có số lượng thông thường từ 2 đến 3 tổ máy, máy biến áp, trạm phân phối điện và cần đường dây tải điện là 35 kV hoặc 110 kV. Với đặc điểm đó, các nhà đầu tư triển khai thi công và vận hành với mục tiêu hoàn thành nhanh, sớm.
Trong đó, thời gian thi công các nhà mày thủy điện vừa và nhỏ ngắn vào khoảng 2 đến 3 năm là có thể đưa nhà máy vào vận hành phát điện. Thứ hai, diện tích lưu vực của thủy điện là nhỏ. Thủy điện vừa và nhỏ sử dụng các hồ chứa nhỏ với dung tích nước nhỏ hoặc các nhà máy không sử dụng hồ chứa. Nhờ việc xây dựng trên các con sông, suối, đại đa số các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ hoạt động nhờ lưu lượng nước cơ bản được hình thành từ đập dâng.
Chính điểm này là “Gót chân Achilles” của thủy điện vừa và nhỏ. Do được xây dựng trên các sông suối nhỏ nên thủy điện vừa và nhỏ thường không có hồ chứa hoặc có hồ chứa với dung tích nhỏ nên chỉ làm được nhiệm vụ phát điện. Khi lượng nước đổ về quá lớn, do hạn chế về mặt hồ chứa nên nhà máy thủy điện vừa và nhỏ không tích nước cắt lũ được mà phải xả lũ trực tiếp xuống vùng hạ du. So với thủy điện lớn vừa làm nhiệm vụ phát điện vừa có chức năng cắt lũ cho hạ du, thủy điện vừa và nhỏ đang tồn tại với yếu điểm lớn nhất của mình.
Chính vì vậy, khi xây dựng nhà máy thủy điện vừa và nhỏ phải có sự khảo sát địa hình, quan trắc, đánh 11 n giá tác động môi trường một cách toàn diện để tránh gây ra thiệt hại đáng tiếc cho hạ du. Thứ ba, thủy điện vừa và nhỏ có mặt bằng xây dựng không lớn. Thủy điện vừa và nhỏ có quy mô thủy điện nhỏ nên không cần nhiều diện tích đất và khối lượng xây dựng trên các con sông, suối. Chính vì vậy, để xây dựng thủy điện, các diện tích rừng phục vụ cho công trình là không nhiều so với thủy điện lớn, hạn chế việc chặt phá, xâm lấn tới rừng.
Khi xây dựng thủy điện lớn, diện tích rừng, diện tích đất nông nghiệp và địa bàn cư trú của người dân bị chiếm dụng rất lớn để tạo diện tích cho hồ chứa có khi lên đến hàng nghìn hecta. Ngược lại, thủy điện nhỏ không chiếm dụng nhiều diện tích đất nên thích hợp xây dựng ở các địa phương miền núi để tận dụng thế năng tại đây. Thứ tư, thủy điện vừa và nhỏ có hiệu quả đầu tư không cao. Việc đầu tư các dự án thủy điện hầu hết rất phức tạp vì thường các nhà máy thủy điện được xây dựng ở vùng sâu, vùng xa, nơi có các điều kiện đi lại khó khăn ảnh hưởng lớn đến việc vận chuyển vật liệu xây dựng,… Khó khăn thêm nữa ở việc truyền tải điện năng từ nơi các nhà máy thủy điện do hạ tầng không đồng bộ giữa các khu vực.
Vì vậy, làm thủy điện vừa và nhỏ phải cân đối giữa chủ trương đầu tư và hiệu quả đầu tư. Vai trò của thủy điện vừa và nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội Thứ nhất, hiệu quả về mặt kinh tế. Thủy năng là nguồn năng lượng rất dồi dào. Các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ không phải phụ thuộc vào sự nhập khẩu và giá thành của các loại nhiên liệu như than đá, dầu mỏ, khí hóa lỏng của nhiệt điện hay nhiên liệu Uranium để vận hành nhà máy điện hạt nhân.
Đồng thời, nhà máy thủy điện sử dụng chi phí rất thấp khi đưa vào hoạt động do được tự động hóa cao. Thứ hai, hiệu quả về môi trường. Thủy điện dùng năng lượng là năng lượng tái tạo, không phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính như nhiệt điện ảnh hưởng khí hậu toàn cầu. Một số công trình nghiên cứu đã xếp thủy điện vào vị trí ít tạo ra khí thải nhà kính nhất, tiếp đến là điện gió, điện hạt nhân và cuối cùng là điện mặt trời.
Do đó có thể coi đây là nguồn năng lượng sạch. 12 n Thứ ba, thủy điện vừa và nhỏ góp phần điều tiết nước sinh hoạt, sản xuất cho hạ du, đưa những vùng đất hoang hóa cằn cọc thành những ruộng vườn màu mỡ, xanh tốt. Các nhà máy thủy điện nhỏ đã cùng với các hồ thủy lợi làm tốt nhiệm vụ cải tạo đất, điều tiết nước, dẫn nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt. Đây cũng là địa điểm thích hợp để phát triển du lịch sinh thái với phong cảnh hữu tình góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của địa phương.
Thứ tư, các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đã góp phần cùng chính quyền địa phương trong phong trào xây dựng Nông thôn mới. Do được phát triển ở địa bàn vùng sâu vùng xa, vùng gặp nhiều khó khăn về kinh tế xã hội nên việc xây dựng nhà máy thủy điện đã kéo theo việc xây dựng các công trình giao thông như đường xá, cầu cống; đường dây dẫn điện… Đồng thời, thông qua xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, người dân địa phương nhận được cơ hội có công ăn việc làm, phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ cho công trình. Do đó, không thể phủ nhận việc các nhà máy thủy điện đưa vào vận hành đã đóng góp một phần lớn vào nguồn thu ngân sách của các tỉnh có công trình thủy điện. Thêm vào đó, nguồn điện tạo ra đã góp phần điện khí hóa nông thôn, đưa điện về tận các bản, làng, các địa phương có địa hình hiểm trở và trở thành trợ lực để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, các nhiệm vụ kinh tế xã hội quan trọng của địa phương và đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, thủy điện vừa và nhỏ cũng ẩn chứa những tác động tiêu cực khôn lường: Thứ nhất, việc xây dựng thủy điện dù ít hay nhiều đều chiếm dụng diện tích đất rừng, đất sản xuất, sinh hoạt. Rừng đầu nguồn bị ảnh hưởng nghiêm trọng đã để lại những hậu quả vô cùng to lớn cho môi trường sinh thái, làm mất đi khả năng cản lũ bảo vệ vùng hạ du, phá hủy môi trường sống của các loài động thực vật. Mất rừng sẽ dẫn những hậu quả nghiêm trọng: lũ đầu nguồn sẽ diễn biến thất thường và cường độ rất khó dự báo; mất cân bằng sinh thái và tác động rất lớn đến cuộc sống của người dân trong vùng chịu ảnh hưởng từ công trình thủy điện. 13 n Đồng thời, việc di dân, tái định cư cho người dân thuộc diện di dời để xây dựng công trình thủy điện đã tác động không nhỏ đến văn hóa – xã hội của địa phương.
Vấn đề bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử cùng với việc tạo việc làm tái sản xuất cho người dân không phải là vấn đề đơn giản với việc phải tìm diện tích canh tác lớn để bố trí và xây dựng nơi ở cho các hộ tái định cư. Đối với trường hợp những người nông dân sau tái định cư phải kiếm sống bằng những nghề phi nông nghiệp nếu không có chính sách dạy nghề, hỗ trợ việc làm thì cuộc sống của người dân sẽ vô cùng khó khăn. Thứ hai, việc thủy điện chặn dòng tích nước để phát điện đã làm cho dòng sông sau đập của nhà máy thủy điện trở thành dòng sông chết, ảnh hưởng đến sinh hoạt, sản xuất của người dân. Dòng sông trở thành con lạch nhỏ đã làm nhiều hộ sống bằng nghề đánh bắt cá từ nhiều năm nay phải tìm kế khác để sinh nhai.
Vấn nạn thiếu nước sinh hoạt trong mùa khô trở nên trầm trọng cùng với việc ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh đã làm xáo trộn cuộc sống yên bình vốn có của người dân miền núi.