CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến ĐTPT, KCN, ĐTPT KCN KCN, ĐTPT, ĐTPT các KCN, sinh kế, tác động của các nhân tố đến sinh kế người dân… đã nhận được sự quan tâm của không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà còn cả các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới. Một số nghiên cứu đã được thực hiện theo hướng làm thế nào để phát triển KCN theo hướng các KCN xanh như nghiên cứu của: Popescu et al (2008), Lambert et al (2002). Nghiên cứu này tập trung giải thích tại sao nên phát triển các KCN theo hướng KCN xanh, những thuận lợi và rủi ro của việc phát triển các KCN với cộng đồng sống quanh KCN.
Đồng thời, tác giả chỉ ra những điểm mạnh của loại hình này tới quá trình phát triển bền vững của các quốc gia đang phát triển có thể giảm ảnh hưởng môi trường do phát triển các KCN mang lại. Những nghiên cứu này mang hướng diễn giải những luận cứ cho vấn đề nghiên cứu dựa trên lý thuyết về tác động môi trường, lý thuyết về KCN, KCN xanh để đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu Tại Việt Nam, các vấn đề liên quan đến khu công nghiệp đã được nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, tác giả Phạm Đình Tuyển (2001), Nguyễn Xuân Hinh (2003) tập trung nghiên cứu về thực trạng quy hoạch khu công nghiệp (KCN), tổ chức lãnh thổ, từ đó đưa ra các giải pháp về quy hoạch KCN nhằm phát triển KCN tại Việt Nam. Trong khi đó tác giả Nguyễn Đình Thu (2005) tập trung nhiều hơn cho phân tích giải pháp đầu tư nhằm tăng tính liên kết giữa khu chức năng, công cộng và sản xuất trong quay trình quy hoạch xây dựng các KCN tại Hà Nội Một khía cạnh tiếp cận khác về phát triển bền vững các khu công nghiệp tại Việt Nam, tác giả Trương Giang Long và cộng sự (2004), Trần Ngọc Hưng (2004), Vũ Thành Hưởng (2006), Võ Thy Trang (2015),. đã tập trung nghiên cứu về thực trạng phát triển bền vững các khu công nghiệp, từ đó đưa ra các đánh giá về mặt thành công và những mặt hạn chế về phát triển các khu công nghiệp để từ đó có thể đề xuất các kiến nghị góp phần phát triển bền vững các khu công nghiệp tại Việt Nam.
Tác giả Lê Thế Giới (2009) đưa ra các các luận điểm cơ bản của lý thuyết cụm công nghiệp và lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh trong phát triển các lợi thế cạnh tranh công nghiệp ở cấp độ quốc gia, vùng và địa phương, từ đó, phân tích làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp hỗ trợ với cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh. 12 Một số nghiên cứu khai thác khía cạnh tác động của cơ chế, chính sách phát triển KCN đến sự phát triển bền vững của các KCN như nghiên cứu của Lê Xuân Bá (2007),Ngô Thắng Lợi và cộng sự (2006), Mai Văn Nam và cộng sự (2010), Nguyễn Mạnh Hùng (2003), Nguyễn Ngọc Dũng (2009) … Thông qua phân tích những tồn tại ở các địa phương như tình trạng thành lập nhiều KCN tại những một số địa phương chưa có đủ điều kiện, cạnh tranh không lành mạnh về thu hút giữa các địa phương, ô nhiễm môi trường không được quản lý tại các KCN… Từ đó, các tác giả đề xuất các khuyến nghị thay đổi chính sách nhằm đảm bảo cho sự phát triển các KCN bền vững như đổi mới tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống thể chế KCN, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với KCN Liên quan đến đầu tư, ĐTPT, có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư theo nghiên cứu của Nguyễn Bạch Nguyệt và cộng sự (2007), Từ Quang Phương và Phạm Văn Hùng (2013),. Nhưng các quan điểm dường như đều thống nhất khi cho rằng, ĐTPT là một bộ phận cơ bản của hoạt động đầu tư, là việc sử dụng vốn trong hiện tại vào các hoạt động nào đó, là việc đánh đổi lợi ích trước mắt lấy lợi ích lâu dài nhằm tạo ra tài sản mới, năng lực sản xuất mới, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển. ĐTPT được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau từ ĐTPT nhằm thu hút VĐT cho một quốc gia, một địa phương đến việc nghiên cứu ĐTPT cho lĩnh vực cụ thể, ĐTPT các khu kinh tế, KCN… Điểm chung của một số nghiên cứu này là việc sử dụng gần như giống nhau về các phương pháp nghiên cứu khi các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yêu trong các nghiên cứu này là phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh và vận dụng ma trận SWOT trong việc xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của vấn đề nghiên cứu từ đó đề xuất các giải pháp cũng như kiến nghị.
Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu thực hiện mang tính đặc thù riêng của các vấn đề mà tác giả tiếp cận, như trong nghiên cứu: ĐTPT các khu kinh tế- quốc phòng ở Việt Nam hiện nay của tác giả Đỗ Mạnh Hùng (2008), tác giả tập trung luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về ĐTPT các khu kinh tế quốc phòng, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư ở các khu kinh tế quốc phòng, xem xét thực trạng đầu tư tại đây từ đó rút ra được những vấn đề bất cập cần giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư ở các khu kinh tế quốc phòng. Cùng nghiên cứu về ĐTPT, tuy nhiên trong nghiên cứu của tác giả Phan Thị Thu Hiền (2015), “tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu khác so với những nghiên cứu trước đó khi tác giả sử dụng phương pháp dự báo hồi quy xu thế bình phương nhỏ nhất để dự báo nhu cầu vốn ĐTPT trên địa bàn tỉnh Hà Nam nói chung và nhu cầu vốn ĐTPT từ nguồn vốn ngân sách địa phương nói riêng trong năm kế hoạch giúp tỉnh Hà 13 Nam có các phương án huy động các nguồn vốn ĐTPT từ nguồn vốn ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh đến năm 2020. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã phân tích thực trạng ĐTPT từ nguồn ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2008-2013 để có những phát hiện cụ thể: ĐTPT từ nguồn vốn ngân sách địa phương tỉnh Hà Nam chưa thực sự phát huy tác dụng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh mà trong đó nguyên nhân chủ yếu là do công tác lập kế hoạch ĐTPT từ nguồn vốn ngân sách địa phương tỉnh Hà Nam còn đưa ra các mục tiêu mang tính tổng hợp nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau kéo theo nội dung lập kế hoạch ĐTPT từ nguồn vốn ngân sách địa phương tỉnh Hà Nam không tập trung, dàn trải, không đúng trọng tâm, trọng điểm. Điều này dẫn đến cơ cấu ĐTPT từ nguồn vốn ngân sách địa phương chưa hợp lý.
Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường ĐTPT từ nguồn vốn ngân sách địa phương tỉnh Hà Nam trong đó trọng tâm thay đổi cơ cấu đầu tư và cơ cấu nguồn vốn ĐTPT từ ngân sách địa phương”. Cùng nghiên cứu về ĐTPT kinh tế của một địa phương, trong nghiên cứu của mình tác giả Hoàng Thị Thu Hà (2015) đã kế thừa những phương pháp nghiên cứu của các nghiên cứu tương đồng trước đó như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, tuy nhiên có bước phát triển hơn các nghiên cứu trước đó khi trong nghiên cứu của mình tác giả sử dụng mô hình hồi quy tương quan để xem xét tác động của các yếu tố như vốn, lao động… tới sự gia tăng của tỉnh Bắc Ninh. Tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư và phát triển bền vững về kinh tế dựa vào việc sử dụng các lý thuyết cơ bản về phát triển bền vững và phát triển bền vững về kinh tế. Tác giả cũng chỉ ra rằng để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế thì đầu tư là nhân tố hàng đầu, thể hiện ở tác động của đầu tư đến tất cả các nội dung của phát triển bền vững bao gồm: Tác động đến tốc độ và thời gian duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến cấu trúc tăng trưởng kinh tế và hiệu quả tăng trưởng.
Các tác động này được thực hiện thông qua việc tăng quy mô và đa dạng các nguồn VĐT, phân bổ VĐT vào các ngành, các lĩnh vực kinh tế hợp lý. Trong khi đó, trong các nghiên cứu về thu hút VĐT vào các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tác giả Đặng Phi Trường và cộng sự (2016) lại tập trung phân tích ảnh hưởng của lao động tới thu hút VĐT vào các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, phương pháp thống kê mô tả và so sánh dữ liệu được tác giả sử dụng cho nghiên cứu. Bằng việc khảo sát các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tác giả đã có góc nhìn từ chính bản thân doanh nghiệp- chủ thể tham gia vào quá trình thu hút VĐT vào các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, phân tích và đưa ra các kiến nghị nhằm có thể đẩy mạnh hơn nữa hoạt động thu hút VĐT vào địa bàn. Trong khi đó tác giả Mai Văn 14 Nam và cộng sự (2010) lại tập trung nghiên cứu việc sử dụng lao động và huy động lao động nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi nhất cho thu hút VĐT vào các KCN trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Cũng sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh dữ liệu khảo sát, nhóm nghiên cứu Nguyễn Thị Ninh Thuận và cộng sự (2012) có sử dụng thêm phương pháp phân tích nhân tố để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút VĐT của doanh nghiệp vào các KCN tại Thành Phố Cần Thơ, kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với các doanh nghiệp trong KCN và các doanh nghiệp ngoài KCN có những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến việc thu hút VĐT vào các KCN, phân tích nhân tố được tác giả sử dụng cho nghiên cứu này. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các kiến nghị góp phần thu hút VĐT vào các KCN trên địa bàn thành phố Cần Thơ, một số kiến nghị được tác giả đề xuất như: cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, giải pháp ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp, ổn định nguồn nhân lực. Trong khi đó, tác giả Vũ Thành Hưởng (2010) lại tập trung nghiên cứu làm thế nào để phát triển bền vững các KCN trong vùng trọng điểm kinh tế bắc bộ, các giải pháp được tác giả đề xuất nhằm phát triển các KCN trong khu vực này.