Luận án tiến sĩ công tác xã hội tác động của hoạt động tài chính vi mô đến sinh kế bền vững dưới cách tiếp cận công tác xã hội với cộng đồng nghiên cứu trường hợp huyện đức trọng tỉnh lâm đồng

Luận án tiến sĩ phân tích tác động của tài chính vi mô đến sinh kế bền vững qua góc nhìn công tác xã hội tại huyện Đức Trọng, Lâm Đồng.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

241
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ ĐẾN SINH KẾ BỀN VỮNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

1.1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến tài chính vi mô và năng lực cộng đồng

1.2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến tài chính vi mô và vốn xã hội

1.3. Tổng quan phát triển cộng đồng trong tiếp cận sinh kế bền vững

1.4. Tổng quan về quan điểm lý thuyết Công tác xã hội với cộng đồng

1.5. Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ ĐẾN PHÁT TRIỂN CÁC NGUỒN VỐN TRONG SINH KẾ BỀN VỮNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

2.1. Các khái niệm công cụ

2.2. Các tiếp cận lý thuyết. Khung phân tích

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

2.3.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

2.3.3. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

2.3.4. Phương pháp điều tra xã hội

2.3.5. Thao tác hóa các khái niệm và các chỉ báo đo lường

2.3.6. Phương pháp Công tác xã hội với cộng đồng

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN ĐỨC TRỌNG

3.1. Tình hình hoạt động tài chính vi mô của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đức Trọng dựa vào cộng đồng

3.2. Tổ chức thực hiện chính sách tài chính vi mô dựa vào cộng đồng

3.3. Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ tín dụng chính sách tài chính vi mô dựa vào cộng đồng

3.4. Kết quả thực hiện chính sách tài chính vi mô thông qua các tổ tiết kiệm và vay vốn dựa vào cộng đồng ở huyện Đức Trọng

3.4.1. Nhu cầu và mục đích vay vốn của các thành viên trong tổ tiết kiệm và vay vốn

3.4.2. Sự hài lòng của các thành viên tổ tiết kiệm và vay vốn đối với các chương trình hoạt động cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội

3.4.3. Sự đa dạng nội dung các chủ đề sinh hoạt trong tổ tiết kiệm và vay vốn

3.4.4. Mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ tiết kiệm và vay vốn

3.4.5. Vai trò của nhân viên xã hội và các tổ trưởng trong các hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn

3.4.6. Sự hiệu quả của hoạt động các tổ tiết kiệm và vay vốn trong cộng đồng

4. CHƯƠNG 4: TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN CON NGƯỜI TRONG SINH KẾ BỀN VỮNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

4.1. Tác động của hoạt động tài chính vi mô đến việc gia tăng thêm kiến thức hiểu biết thông qua các buổi sinh hoạt trao đổi, chia sẻ

4.2. Tác động của hoạt động tài chính vi mô đến việc gia tăng kinh nghiệm làm ăn trong sinh hoạt của các thành viên tổ tiết kiệm và vay vốn

4.3. Tác động của hoạt động tài chính vi mô đến việc gia tăng sự giúp đỡ giữa các thành viên trong tổ tiết kiệm và vay vốn

4.4. Tác động của hoạt động tài chính vi mô đến việc thay đổi phát triển kỹ năng của các thành viên trong quá trình sinh hoạt tổ tiết kiệm và vay vốn

4.5. Tác động của hoạt động tài chính vi mô đến việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề của các thành viên tổ tiết kiệm và vay vốn

5. CHƯƠNG 5: TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN XÃ HỘI TRONG SINH KẾ BỀN VỮNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

5.1. Phát triển nguồn vốn xã hội thể hiện ở sự thay đổi bản thân của các thành viên từ khi tham gia tổ tiết kiệm và vay vốn

5.2. Phát triển nguồn vốn xã hội thể hiện ở sự thay đổi mối quan hệ xã hội của các thành viên trong quá trình tham gia tổ tiết kiệm và vay vốn

5.3. Phát triển nguồn vốn xã hội thể hiện ở sự tin tưởng và tin cậy giữa các thành viên trong quá trình tham gia tổ tiết kiệm và vay vốn

5.4. Phát triển nguồn vốn xã hội thể hiện ở sự kết nối, hình thành nhóm hỗ trợ, giúp đỡ giữa các thành viên trong quá trình tham gia tổ tiết kiệm và vay vốn

5.5. Phát triển nguồn vốn xã hội thể hiện sự tích cực tham gia vào các tổ chức xã hội trong cộng đồng của các thành viên tổ tiết kiệm và vay vốn

5.6. Phát triển nguồn vốn xã hội thể hiện ở năng lực thiết lập mối quan hệ, liên kết làm ăn thông qua quen biết từ các thành viên trong tổ tiết kiệm và vay vốn

6. CHƯƠNG 6: TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN TÀI CHÍNH TRONG SINH KẾ BỀN VỮNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

6.1. Gia tăng nguồn lực tài chính từ các chương trình cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội

6.2. Gia tăng nguồn lực tài chính đến từ các quỹ tương trợ, quỹ tiết kiệm hình thành trong quá trình hoạt động tổ tiết kiệm và vay vốn

6.3. Gia tăng nguồn lực tài chính có được từ các thành viên tham gia các nhóm chơi hụi, chơi hội được hình thành trong quá trình hoạt động tổ tiết kiệm và vay vốn

6.4. Gia tăng nguồn lực tài chính hình thành từ sự vay mượn và giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn của các thành viên trong tổ tiết kiệm và vay vốn

7. CHƯƠNG 7: HƯỚNG THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ ĐẾN PHÁT TRIỂN CÁC NGUỒN VỐN TRONG SINH KẾ BỀN VỮNG DƯỚI CÁCH TIẾP CẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CỘNG ĐỒNG

7.1. Thúc đẩy vai trò của tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô hướng đến hiệu quả hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn dựa vào cộng đồng

7.2. Thúc đẩy vai trò của nhân viên xã hội và các tổ trưởng các tổ hướng đến nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn dựa vào cộng đồng

7.3. Thúc đẩy chất lượng các nội dung sinh hoạt trong tổ tiết kiệm và vay vốn dựa vào cộng đồng

7.4. Thúc đẩy phát triển năng lực của thành viên trong quá trình tham gia vào tổ tiết kiệm và vay vốn dựa vào cộng đồng

7.5. Sự cần thiết của Công tác xã hội với cộng đồng trong việc tổ chức và quản lý các hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Tóm tắt

I. Tác động của tài chính vi mô đến sinh kế bền vững

Nghiên cứu chỉ ra rằng tài chính vi mô (TCVM) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển sinh kế bền vững tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. TCVM không chỉ cung cấp nguồn vốn cho các hộ gia đình mà còn giúp họ nâng cao năng lực quản lý tài chính. Theo số liệu từ Ngân hàng Chính sách xã hội, nhiều hộ gia đình đã sử dụng vốn vay để đầu tư vào sản xuất, từ đó gia tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống. Một nghiên cứu cho thấy, 75% hộ gia đình tham gia vào các tổ tiết kiệm và vay vốn đã có sự gia tăng rõ rệt về thu nhập sau khi tham gia chương trình TCVM. Điều này chứng tỏ rằng TCVM không chỉ là công cụ tài chính mà còn là phương tiện để phát triển bền vững trong cộng đồng.

1.1. Vai trò của tài chính vi mô trong công tác xã hội

TCVM được xem như một phần không thể thiếu trong công tác xã hội tại huyện Đức Trọng. Các tổ chức xã hội đã tích cực tham gia vào việc tổ chức và quản lý các hoạt động TCVM, giúp người dân tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn. Theo một báo cáo, 80% người dân cho biết họ cảm thấy tự tin hơn trong việc quản lý tài chính cá nhân sau khi tham gia các buổi tập huấn do các tổ chức xã hội tổ chức. Điều này cho thấy sự kết hợp giữa TCVM và công tác xã hội không chỉ giúp người dân tiếp cận tài chính mà còn nâng cao năng lực cá nhân và cộng đồng.

II. Tác động của tài chính vi mô đến phát triển nguồn vốn xã hội

Nghiên cứu cho thấy rằng hoạt động TCVM đã góp phần quan trọng trong việc phát triển nguồn vốn xã hội tại huyện Đức Trọng. Các tổ tiết kiệm và vay vốn không chỉ là nơi cung cấp tài chính mà còn là không gian để người dân giao lưu, học hỏi và hỗ trợ lẫn nhau. Sự kết nối giữa các thành viên trong tổ đã tạo ra một mạng lưới hỗ trợ mạnh mẽ, giúp họ vượt qua khó khăn. Theo khảo sát, 70% thành viên cho biết họ đã nhận được sự hỗ trợ từ các thành viên khác trong tổ khi gặp khó khăn tài chính. Điều này cho thấy rằng TCVM không chỉ giúp cải thiện tình hình tài chính cá nhân mà còn tạo ra một cộng đồng gắn kết hơn.

2.1. Sự thay đổi trong mối quan hệ xã hội

Sự tham gia vào các tổ tiết kiệm và vay vốn đã làm thay đổi đáng kể mối quan hệ xã hội của các thành viên. Họ không chỉ trở thành những người vay vốn mà còn là những người hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng. Nghiên cứu cho thấy, 65% thành viên cảm thấy mối quan hệ của họ với hàng xóm và bạn bè đã được cải thiện sau khi tham gia vào các tổ này. Điều này chứng tỏ rằng TCVM không chỉ là một công cụ tài chính mà còn là một phương tiện để xây dựng và củng cố nguồn vốn xã hội.

III. Tác động của tài chính vi mô đến phát triển nguồn vốn tài chính

Hoạt động TCVM đã giúp gia tăng nguồn vốn tài chính cho các hộ gia đình tại huyện Đức Trọng. Các chương trình cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội đã cung cấp nguồn lực tài chính cần thiết cho nhiều hộ gia đình, giúp họ đầu tư vào sản xuất và kinh doanh. Theo thống kê, 60% hộ gia đình đã sử dụng vốn vay để mở rộng sản xuất, từ đó gia tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Điều này cho thấy rằng TCVM không chỉ giúp người dân vượt qua khó khăn mà còn tạo ra cơ hội phát triển kinh tế bền vững.

3.1. Gia tăng nguồn lực tài chính từ các quỹ tương trợ

Các quỹ tương trợ và quỹ tiết kiệm được hình thành trong quá trình hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn đã góp phần quan trọng trong việc gia tăng nguồn lực tài chính. Nghiên cứu cho thấy, 55% thành viên đã tham gia vào các quỹ này và nhận được sự hỗ trợ tài chính khi gặp khó khăn. Điều này không chỉ giúp họ vượt qua khó khăn mà còn tạo ra một mạng lưới hỗ trợ tài chính vững chắc trong cộng đồng.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ công tác xã hội tác động của hoạt động tài chính vi mô đến sinh kế bền vững dưới cách tiếp cận công tác xã hội với cộng đồng nghiên cứu trường hợp huyện đức trọng tỉnh lâm đồng

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 là tổng quan tình hình các nghiên cứu liên quan đến đề tai như những nghiên cứu tác động của tài chính vi mô và sinh kế bền vững: tác động của tài chính vi mô và năng lực cộng đồng; tác động của tài chính vi mô và vốn xã hội. Đồng thời tổng quan các vấn đề tiếp cận lý luận như phát triển cộng đồng trong tiếp cận sinh kế bền vững và quan điểm tiếp cận lý thuyết công tác xã hội với cộng đồng. Thông qua việc tong quan các nghiên cứu đi trước, dé tài tập trung xác định các van đề các nghiên cứu còn ton tại và đồng thời xác định các vấn dé mà đề tài luận án tập trung nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu liên quan giữa tài chính vi mô và sinh kế bền vững Trên thế giới hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy những tác động của TCVM đến SKBV của người dân.

Những công trình này nghiên cứu tác động đến SKBV đều thé hiện rất rõ những tác động hoạt động TCVM đến các nguồn vốn trong SKBV. Phần lớn các công trình nghiên cứu có địa bàn đều đến từ các quốc gia ở Châu Phi và Châu A nơi ma đây có nhiều quốc gia dang phát trién, tỷ lệ người nghèo còn cao và hoạt động TCVM tương đối mạnh ở các cộng đồng địa phương. Các công trình nghiên cứu cho thấy những tác động của hoạt động TCVM đến SKBV của người dân tiêu biểu như Eoin Wrenn (2007), Kantor (2009), Kuhinur, Rokonuzzaman (2009), Thilepan, Thiruchelvam (2011), Davis, Abed, Hissain, Dubitsky (2011), Anand (2013), Tilahun (2013), Karakitsiou (2013), Diro, Regasa (2014), Welday (2014), Habte (2016). Bên cạnh đó, cũng có nhiều công trình tập trung đi sâu vào nghiên cứu tác động của hoạt động TCVM đến SKBV của người phụ nữ.

Tiêu biểu như Burjojee, Deshpande, Weidemann (2002), Lakwo (2007), Kuhinur, Rokonuzzaman (2009), Ferka (2011), Mucheke (2015). 17 Habte (2016) nghiên cứu “Tác động của tài chính vi mô đến sinh kế bên vững: một bằng chứng từ vùng nông thôn Eritrea”. Tác giả tập trung mô tả các tài sản sở hữu cũng như chiến lược theo đuôi và kết quả đạt được của các hộ gia đình nông thôn. Đồng thời xác định và kiểm tra các yếu tố quyết định sự tham gia của các hộ gia đình nông thôn trong hoạt động TCVM.

Đặc biệt nghiên cứu chú trọng đánh giá tác động của việc tham gia hoạt động TCVM trên kết quả SKBV của người dân. Tác giả sử dụng hai phương pháp chủ đạo đó là phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính đó là điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung. Đối với phương pháp định lượng, tác giả tập trung sử dụng phương pháp so sánh với mẫu được chọn là 500 mẫu thuộc hai nhóm là thành viên tham gia hoạt động TCVM. Một nhóm 200 mẫu là thành viên tham gia hoạt động TCVM trên 3 tháng trở lên và một nhóm 300 mẫu là thành viên bắt đầu gia nhập, mới tham gia hoặc tham gia dưới 3 tháng.

Sự khác biệt của nghiên cứu này so với các nghiên cứu thực nghiệm khác là nhóm đối chứng tác giả chọn là những khách hàng mới tham gia, dang đợi hoàn thành thủ tục dé tham gia hoặc đã tham gia nhưng có thời gian it hơn 3 tháng chứ không chọn mẫu là những khách hàng không tham gia trong hoạt động TCVM. Lý giải cho việc lựa chọn mẫu này, tác giả cho rằng nếu chọn so sánh giữa thành viên nhóm TCVM với không phải thành viên thì thường đi đến vấn đề vốn có đó là những thành kiến. Khi đó sự khác biệt giữa hai nhóm này có thể được đo lường va quan sát như độ tuổi, học vấn, tài sản năm giữ,. có thể kiểm soát được qua thống kê khi ước tính những tác động của TCVM mang lại.

Tác giả cũng cho rằng, thời gian 3 tháng những khách hàng mới của TCVM ở vùng nông thôn chưa cho thấy những tác động mang lại. Còn trên 3 tháng, kết quả nghiên cứu cho thấy những tác động của hoạt động TCVM đến sinh kế của người dân ở vùng nông thôn Eritrea. Tác giả không đi vào phân tích cụ thể kết quả thể hiện SKBV ở năm loại tài sản (vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội và vốn tự nhiên) mà kết quả chỉ cho thấy khác biệt ở tác động giữa hai nhóm ở các loại tài sản ở từng khía cạnh khác nhau như lợi nhuận; tiêu thụ thực phẩm và chỉ tiêu; tiết kiệm; tình trạng rủi ro và cơ chế đối phó. Đặc biệt kết quả đi sâu vào phân tích dé thấy rõ sự tác động của TCMV đến SKBV thông qua sự khác biệt về thống kê các biến giữa 18 hai nhóm so sánh.

Thể hiện tác động đến nguồn vốn con người trong SKBV ở khía cạnh tác động nhưng cũng là sự khác biệt so với nhiều nghiên cứu liên quan về lĩnh vực này. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu chủ yếu thé hiện ở khía cạnh lĩnh vực vốn kinh tế và nông nghiệp, không cho thấy những tác động ở khía cạnh xã hội nhiều. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này lại chỉ ra rất rõ ràng những tác động của TCVM đến SKBV thể hiện tác động đến khía cạnh xã hội khi phân tích nguồn vốn xã hội và nguồn vốn con người. Đây là một hạn chế trong nghiên cứu này, khi tác giả của nghiên cứu thuộc chuyên ngành lĩnh vực kinh tế nông nghiệp nên cách nhìn nhận cũng có nhiều sự khác biệt so với các nghiên cứu khác.

Namrata Anand (2013) với nghiên cứu “7úc động cua tài chính vi mô đến sinh kế bên vững nông thôn: một nghiên cứu phân tích”. Trong nghiên cứu của mình, Anand tập trung phân tích viễn cảnh thực tại của TCVM ở Ấn Độ để đi sâu vào phân tích tác động của TCVM đến SKBV của người dân nông thôn ở các loại nguồn vốn như vốn con người và vốn xã hội. Tác giả sử dụng phương pháp chủ đạo là khảo sát điều tra xã hội học bên cạnh phương pháp thảo luận nhóm tập trung, quan sát thực địa. Mẫu được chọn nghiên cứu là 335 mẫu (tỷ lệ 0,5% tổng thể 71088) đơn vị là hộ gia đình nông thôn thành viên tham gia hoạt động TCVMở tỉnh Agra, An Độ.

Kết quả nghiên cứu tác giả đã cho thấy những tác động của hoạt động TCVM thông qua các nhóm đến SKBV người dân nông thôn ở các khía cạnh tài sản như vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình, Anand mới chỉ nhìn nhận sự thay đôi sinh kế của người dân ở các loại tài sản của người dân là thành viên tham gia nhóm hoạt động TCVM dưới góc nhìn chuyên môn thuộc lĩnh vực kinh tế và nông nghiệp nên trong kết quả của mình tác giả cũng chưa cho thấy rõ nét về tác động về khía cạnh xã hội trong phân tích các loại như vốn con người vốn hay vốn xã hội dựa trên quan điểm nhìn nhận của tiếp cận CTXH và PTCĐ. Đặc biệt trong lĩnh vực CTXH với cộng đồng thì vai trò của các loại vốn này lại rất quan trọng. Đây cũng là hạn chế chung của các nghiên cứu hiện nay, khi các tac giả nghiên cứu thuộc lĩnh vực TCVM và SKBV lại chủ yếu tập trung chuyên môn thuộc lĩnh vực kinh tế và nông nghiệp.

19 Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu kết quả đã cho thấy và khăng định những tác động của TCVM đến SKBV thể hiện ở việc phát triển các nguồn vốn (Namrata Anand, 2013; Asfaw Tilahun, 2013; Thiruchelvam, 2011). Tuy nhiên, cả ba nghiên cứu của nhóm tác giả này đều cho thấy, kết quả thê hiện rõ ràng nhất tập trung ở các loại vốn như vốn con người, von xã hội, còn vốn tải chính, vốn tự nhiên va vốn vật chất các tác giả chưa đưa ra được nhiều biện luận để khẳng định rõ ràng hơn. Liên quan đến TCVM và SKBV còn có những nghiên cứu của Ferka (2011), Bhuiyan (2013), Kuhinur, Rokonuzzaman (2009), Eoin Wrenn (2007). Trong nghiên cứu cua mình, các tác giả này dù ở mức độ nghiên cứu khác nhau nhưng đều đưa ra được kết qua cho thay những tác động của TCVM đến các nguồn vốn trong SKBV các hộ gia đình tham gia vay vốn, đặc biệt là nguồn vốn con người và vốn xã hội.

Tuy nhiên, cũng giống như nghiên cứu của Namrata Anand (2013), Asfaw Tilahun (2013), Thiruchelvam (2011), kết qua của những nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở việc cho thấy những tác động rõ ràng của TCVM mang lại đến việc phát triển sinh kế của các hộ gia đình ở loại tài sản vốn con người va vốn xã hội, chưa thể hiện rõ những tác động ở các loại tài sản như vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tải chính. Đây là tình hình chung của các kết quả nghiên cứu liên quan đến TCVM và SKBV khi đặc thù hoạt động của TCVM thông qua các té/ nhóm ở cộng đồng thé hiện nhiều ở sự tương tác trong mối quan hệ giữa các thành viên trong t6/ nhóm. Đặc biệt, các kết quả nghiên cứu chưa cho thấy thay đổi tiến trình SKBV của các hộ gia đình đưới tác động của TCVM như thế nào và hoạt động sinh kế ra sao. Đây là vẫn dé đặt ra cho các nghiên cứu tập trung hơn vào sự thay đổi tiến trình SKBV dưới tác động của TCVM.

Ngoài ra, trong nghiên cứu của mình, các tác giả cũng chỉ mới đưa ra được các giải pháp hành động nhằm thay đổi chính sách TCVM (Namrata Anand, 2013), thay đổi cách thức tổ chức và quản lý hoạt động TCVM (Asfaw Tilahun, 2013; Thiruchelvam, 2011). Đặc biệt vai trò của nhân viên phụ trách hay tô trưởng/ nhóm trong tổ chức và quản lý hoạt động TCVM chưa được thé hiện rõ ràng. Dé khỏa lấp những hạn chê trên, trong nghiên cứu của chúng tôi, tập trung tìm hiéu sâu rộng và 20 cụ thể những tác động của TCVM đến phát triển các nguồn vốn trong SKBV. Đặc biệt tập trung sâu những tác động về khía cạnh xã hội, nhất là nguồn vốn xã hội và nguồn vốn con người, vì trong PTCD thi hai nguồn vốn này có vai trò rất quan trọng, là sợi dây liên kết tất cả các nguồn vốn khác cũng như là tiền đề để cộng đồng phát triển một cách bền vững.

Qua đó, nghiên cứu cho thấy một cách tiếp cận mới SKBV từ hoạt động TCVM dưới cách tiếp cận PTCĐ hay còn gọi CTXH với cộng đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tác động của tài chính vi mô đến sinh kế bền vững trong công tác xã hội tại huyện Đức Trọng, Lâm Đồng" khám phá vai trò quan trọng của tài chính vi mô trong việc cải thiện sinh kế bền vững cho cộng đồng. Tác giả phân tích cách mà các chương trình tài chính vi mô không chỉ giúp người dân tiếp cận nguồn vốn mà còn tạo ra cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm nghèo bền vững. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa tài chính vi mô và công tác xã hội, đồng thời nhấn mạnh những lợi ích mà nó mang lại cho người dân địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về các giải pháp phát triển kinh tế và quản lý tài chính, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế một số giải pháp giảm nghèo trên địa bàn huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn, nơi trình bày các chiến lược giảm nghèo hiệu quả. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng giải pháp phát triển tín dụng chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách tín dụng hỗ trợ cộng đồng thiểu số. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh tại quận 1 thành phố hồ chí minh cung cấp cái nhìn về quản lý nhà nước đối với các hộ kinh doanh, một yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến tài chính và phát triển bền vững.