chương 1 là tổng quan tình hình các nghiên cứu liên quan đến đề tai như những nghiên cứu tác động của tài chính vi mô và sinh kế bền vững: tác động của tài chính vi mô và năng lực cộng đồng; tác động của tài chính vi mô và vốn xã hội. Đồng thời tổng quan các vấn đề tiếp cận lý luận như phát triển cộng đồng trong tiếp cận sinh kế bền vững và quan điểm tiếp cận lý thuyết công tác xã hội với cộng đồng. Thông qua việc tong quan các nghiên cứu đi trước, dé tài tập trung xác định các van đề các nghiên cứu còn ton tại và đồng thời xác định các vấn dé mà đề tài luận án tập trung nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu liên quan giữa tài chính vi mô và sinh kế bền vững Trên thế giới hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy những tác động của TCVM đến SKBV của người dân.
Những công trình này nghiên cứu tác động đến SKBV đều thé hiện rất rõ những tác động hoạt động TCVM đến các nguồn vốn trong SKBV. Phần lớn các công trình nghiên cứu có địa bàn đều đến từ các quốc gia ở Châu Phi và Châu A nơi ma đây có nhiều quốc gia dang phát trién, tỷ lệ người nghèo còn cao và hoạt động TCVM tương đối mạnh ở các cộng đồng địa phương. Các công trình nghiên cứu cho thấy những tác động của hoạt động TCVM đến SKBV của người dân tiêu biểu như Eoin Wrenn (2007), Kantor (2009), Kuhinur, Rokonuzzaman (2009), Thilepan, Thiruchelvam (2011), Davis, Abed, Hissain, Dubitsky (2011), Anand (2013), Tilahun (2013), Karakitsiou (2013), Diro, Regasa (2014), Welday (2014), Habte (2016). Bên cạnh đó, cũng có nhiều công trình tập trung đi sâu vào nghiên cứu tác động của hoạt động TCVM đến SKBV của người phụ nữ.
Tiêu biểu như Burjojee, Deshpande, Weidemann (2002), Lakwo (2007), Kuhinur, Rokonuzzaman (2009), Ferka (2011), Mucheke (2015). 17 Habte (2016) nghiên cứu “Tác động của tài chính vi mô đến sinh kế bên vững: một bằng chứng từ vùng nông thôn Eritrea”. Tác giả tập trung mô tả các tài sản sở hữu cũng như chiến lược theo đuôi và kết quả đạt được của các hộ gia đình nông thôn. Đồng thời xác định và kiểm tra các yếu tố quyết định sự tham gia của các hộ gia đình nông thôn trong hoạt động TCVM.
Đặc biệt nghiên cứu chú trọng đánh giá tác động của việc tham gia hoạt động TCVM trên kết quả SKBV của người dân. Tác giả sử dụng hai phương pháp chủ đạo đó là phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính đó là điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung. Đối với phương pháp định lượng, tác giả tập trung sử dụng phương pháp so sánh với mẫu được chọn là 500 mẫu thuộc hai nhóm là thành viên tham gia hoạt động TCVM. Một nhóm 200 mẫu là thành viên tham gia hoạt động TCVM trên 3 tháng trở lên và một nhóm 300 mẫu là thành viên bắt đầu gia nhập, mới tham gia hoặc tham gia dưới 3 tháng.
Sự khác biệt của nghiên cứu này so với các nghiên cứu thực nghiệm khác là nhóm đối chứng tác giả chọn là những khách hàng mới tham gia, dang đợi hoàn thành thủ tục dé tham gia hoặc đã tham gia nhưng có thời gian it hơn 3 tháng chứ không chọn mẫu là những khách hàng không tham gia trong hoạt động TCVM. Lý giải cho việc lựa chọn mẫu này, tác giả cho rằng nếu chọn so sánh giữa thành viên nhóm TCVM với không phải thành viên thì thường đi đến vấn đề vốn có đó là những thành kiến. Khi đó sự khác biệt giữa hai nhóm này có thể được đo lường va quan sát như độ tuổi, học vấn, tài sản năm giữ,. có thể kiểm soát được qua thống kê khi ước tính những tác động của TCVM mang lại.
Tác giả cũng cho rằng, thời gian 3 tháng những khách hàng mới của TCVM ở vùng nông thôn chưa cho thấy những tác động mang lại. Còn trên 3 tháng, kết quả nghiên cứu cho thấy những tác động của hoạt động TCVM đến sinh kế của người dân ở vùng nông thôn Eritrea. Tác giả không đi vào phân tích cụ thể kết quả thể hiện SKBV ở năm loại tài sản (vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội và vốn tự nhiên) mà kết quả chỉ cho thấy khác biệt ở tác động giữa hai nhóm ở các loại tài sản ở từng khía cạnh khác nhau như lợi nhuận; tiêu thụ thực phẩm và chỉ tiêu; tiết kiệm; tình trạng rủi ro và cơ chế đối phó. Đặc biệt kết quả đi sâu vào phân tích dé thấy rõ sự tác động của TCMV đến SKBV thông qua sự khác biệt về thống kê các biến giữa 18 hai nhóm so sánh.
Thể hiện tác động đến nguồn vốn con người trong SKBV ở khía cạnh tác động nhưng cũng là sự khác biệt so với nhiều nghiên cứu liên quan về lĩnh vực này. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu chủ yếu thé hiện ở khía cạnh lĩnh vực vốn kinh tế và nông nghiệp, không cho thấy những tác động ở khía cạnh xã hội nhiều. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này lại chỉ ra rất rõ ràng những tác động của TCVM đến SKBV thể hiện tác động đến khía cạnh xã hội khi phân tích nguồn vốn xã hội và nguồn vốn con người. Đây là một hạn chế trong nghiên cứu này, khi tác giả của nghiên cứu thuộc chuyên ngành lĩnh vực kinh tế nông nghiệp nên cách nhìn nhận cũng có nhiều sự khác biệt so với các nghiên cứu khác.
Namrata Anand (2013) với nghiên cứu “7úc động cua tài chính vi mô đến sinh kế bên vững nông thôn: một nghiên cứu phân tích”. Trong nghiên cứu của mình, Anand tập trung phân tích viễn cảnh thực tại của TCVM ở Ấn Độ để đi sâu vào phân tích tác động của TCVM đến SKBV của người dân nông thôn ở các loại nguồn vốn như vốn con người và vốn xã hội. Tác giả sử dụng phương pháp chủ đạo là khảo sát điều tra xã hội học bên cạnh phương pháp thảo luận nhóm tập trung, quan sát thực địa. Mẫu được chọn nghiên cứu là 335 mẫu (tỷ lệ 0,5% tổng thể 71088) đơn vị là hộ gia đình nông thôn thành viên tham gia hoạt động TCVMở tỉnh Agra, An Độ.
Kết quả nghiên cứu tác giả đã cho thấy những tác động của hoạt động TCVM thông qua các nhóm đến SKBV người dân nông thôn ở các khía cạnh tài sản như vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình, Anand mới chỉ nhìn nhận sự thay đôi sinh kế của người dân ở các loại tài sản của người dân là thành viên tham gia nhóm hoạt động TCVM dưới góc nhìn chuyên môn thuộc lĩnh vực kinh tế và nông nghiệp nên trong kết quả của mình tác giả cũng chưa cho thấy rõ nét về tác động về khía cạnh xã hội trong phân tích các loại như vốn con người vốn hay vốn xã hội dựa trên quan điểm nhìn nhận của tiếp cận CTXH và PTCĐ. Đặc biệt trong lĩnh vực CTXH với cộng đồng thì vai trò của các loại vốn này lại rất quan trọng. Đây cũng là hạn chế chung của các nghiên cứu hiện nay, khi các tac giả nghiên cứu thuộc lĩnh vực TCVM và SKBV lại chủ yếu tập trung chuyên môn thuộc lĩnh vực kinh tế và nông nghiệp.
19 Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu kết quả đã cho thấy và khăng định những tác động của TCVM đến SKBV thể hiện ở việc phát triển các nguồn vốn (Namrata Anand, 2013; Asfaw Tilahun, 2013; Thiruchelvam, 2011). Tuy nhiên, cả ba nghiên cứu của nhóm tác giả này đều cho thấy, kết quả thê hiện rõ ràng nhất tập trung ở các loại vốn như vốn con người, von xã hội, còn vốn tải chính, vốn tự nhiên va vốn vật chất các tác giả chưa đưa ra được nhiều biện luận để khẳng định rõ ràng hơn. Liên quan đến TCVM và SKBV còn có những nghiên cứu của Ferka (2011), Bhuiyan (2013), Kuhinur, Rokonuzzaman (2009), Eoin Wrenn (2007). Trong nghiên cứu cua mình, các tác giả này dù ở mức độ nghiên cứu khác nhau nhưng đều đưa ra được kết qua cho thay những tác động của TCVM đến các nguồn vốn trong SKBV các hộ gia đình tham gia vay vốn, đặc biệt là nguồn vốn con người và vốn xã hội.
Tuy nhiên, cũng giống như nghiên cứu của Namrata Anand (2013), Asfaw Tilahun (2013), Thiruchelvam (2011), kết qua của những nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở việc cho thấy những tác động rõ ràng của TCVM mang lại đến việc phát triển sinh kế của các hộ gia đình ở loại tài sản vốn con người va vốn xã hội, chưa thể hiện rõ những tác động ở các loại tài sản như vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tải chính. Đây là tình hình chung của các kết quả nghiên cứu liên quan đến TCVM và SKBV khi đặc thù hoạt động của TCVM thông qua các té/ nhóm ở cộng đồng thé hiện nhiều ở sự tương tác trong mối quan hệ giữa các thành viên trong t6/ nhóm. Đặc biệt, các kết quả nghiên cứu chưa cho thấy thay đổi tiến trình SKBV của các hộ gia đình đưới tác động của TCVM như thế nào và hoạt động sinh kế ra sao. Đây là vẫn dé đặt ra cho các nghiên cứu tập trung hơn vào sự thay đổi tiến trình SKBV dưới tác động của TCVM.
Ngoài ra, trong nghiên cứu của mình, các tác giả cũng chỉ mới đưa ra được các giải pháp hành động nhằm thay đổi chính sách TCVM (Namrata Anand, 2013), thay đổi cách thức tổ chức và quản lý hoạt động TCVM (Asfaw Tilahun, 2013; Thiruchelvam, 2011). Đặc biệt vai trò của nhân viên phụ trách hay tô trưởng/ nhóm trong tổ chức và quản lý hoạt động TCVM chưa được thé hiện rõ ràng. Dé khỏa lấp những hạn chê trên, trong nghiên cứu của chúng tôi, tập trung tìm hiéu sâu rộng và 20 cụ thể những tác động của TCVM đến phát triển các nguồn vốn trong SKBV. Đặc biệt tập trung sâu những tác động về khía cạnh xã hội, nhất là nguồn vốn xã hội và nguồn vốn con người, vì trong PTCD thi hai nguồn vốn này có vai trò rất quan trọng, là sợi dây liên kết tất cả các nguồn vốn khác cũng như là tiền đề để cộng đồng phát triển một cách bền vững.
Qua đó, nghiên cứu cho thấy một cách tiếp cận mới SKBV từ hoạt động TCVM dưới cách tiếp cận PTCĐ hay còn gọi CTXH với cộng đồng.