Mở đầu, 3 chƣơng (8 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 16 Chƣơng 1 PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM 1. Những vấn đề lý luận chung về kinh tế tƣ nhân 1. Quan niệm và bản chất của kinh tế tư nhân * Quan niệm về kinh tế tư nhân Trong di sản lý luận của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã nghiên cứu rất sâu sắc nền kinh tế dựa trên chế độ tƣ hữu về TLSX nhƣng chƣa đƣa ra thuật ngữ "KTTN" mà chỉ đề cập đến sở hữu tƣ nhân, khẳng định: sở hữu tƣ nhân về TLSX là cơ sở nảy sinh và tồn tại của các hình thức kinh tế tƣ hữu.
Hiện nay, khái niệm KTTN còn có nhiều ý kiến chƣa đồng nhất. Theo nghĩa rộng, KTTN đƣợc sử dụng để phân biệt với kinh tế Nhà nƣớc. Theo nghĩa hẹp hơn, KTTN là TPKT đƣợc hình thành và phát triển dựa trên sở hữu tƣ nhân về TLSX và lợi ích cá nhân. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “KTTN là một loại hình kinh tế; dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về TLSX, có thể là kinh tế tự nhiên hoặc kinh tế hàng hoá và phát triển cao trong kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ, KTTN còn tồn tại lâu dài trong nền kinh tế nhiều thành phần, được khuyến khích phát triển dưới sự kiểm soát của Nhà nước theo định hướng XHCN”[52; tr. Trên cơ sở chính thức thừa nhận và khẳng định phát triển KTTN là vấn đề mang tính chiến lƣợc trong quá trình phát triển nền KTTT định hƣớng XHCN ở nƣớc ta, các Nghị quyết của Đảng trong thời kỳ đổi mới đã tiếp tục làm rõ quan niệm của Đảng ta về KTTN, vai trò, vị trí của KTTN trong nền KTTT định hƣớng XHCN và những chủ trƣơng giải pháp tháo gỡ cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích KTTN phát triển. Trong Nghị quyết Trung ƣơng 5 khóa IX, Đảng ta nêu lên quan niệm về KTTN với những bộ phận cấu thành, hình thức biểu hiện và phạm Luan van 17 vi hoạt động của KTTN. Đảng ta khẳng định: "KTTN bao gồm kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân, hoạt động dƣới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình DNTN đã phát triển rộng khắp trong cả nƣớc" [10, tr.
Theo đó, khái niệm KTTN đƣợc sử dụng với tƣ cách là một khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tƣ nhân về TLSX, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân. KTTN hoạt động dƣới các hình thức tổ chức kinh doanh nhƣ: hộ kinh doanh cá thể và các loại hình DNTN (DNTN, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh), ngoài ra gồm cả phần đầu tƣ của tƣ nhân vào khu vực kinh tế nhà nƣớc, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Phạm vi, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, của KTTN bao gồm những hộ gia đình, DNTN tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhƣ nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, chế biến nông lâm sản, đánh bắt và chế biến thuỷ sản, thƣơng mại và dịch vụ du lịch. trong cả nƣớc.
Đây là quan điểm mang tính đột phá, thể hiện sự phát triển trong tƣ duy lý luận của Đảng ta về KTTN; lần đầu tiên Đảng ta đã xác định nội hàm của khái niệm KTTN, làm cơ sở phƣơng pháp luận tạo sự thống nhất nhận thức cũng nhƣ trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn của Đảng và của toàn xã hội về KTTN. Đại hội X của Đảng đã sử dụng thuật ngữ "thành phần KTTN" để chỉ các lực lƣợng, bộ phận kinh tế trong xã hội đang tồn tại dựa trên cơ sở chế độ tƣ hữu về TLSX. Quan điểm về “thành phần KTTN” tiếp tục đƣợc khẳng định ở Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI. Đồng thời khẳng định rõ “KTTN có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” [12, tr.
Trên cở sở quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin và của Đảng ta, có nhiều nghiên cứu của các học giả, các nhà lý luận tiếp tục đầu tƣ phân tích làm rõ sự giống và khác biệt của KTTN ở những nền kinh tế khác nhau, trong những chế độ chính trị khác nhau. KTTN trong các nền kinh tế khác nhau có điểm giống và khác nhau nhất định. Điểm giống nhau là chúng đều tồn tại và phát triển dựa trên “quy luật QHSX Luan van 18 phải phù hợp với trình độ của LLSX”. Đặc điểm này chỉ ra rằng các hình thức sở hữu, nói rộng ra là QHSX ra đời, phát triển và tiêu vong có tính khách quan và mang tính lịch sử, chúng tồn tại trong những điều kiện nhất định của LLSX.
Tuy nhiên, chúng khác nhau ở chỗ, KTTN trong nền KTTT dựa trên LLSX xã hội hóa, do đó nó tồn tại và phát triển không thể tách rời các hình thức sở hữu và các TPKT khác. Đặc điểm này đƣa đến mâu thuẫn nội tại trong KTTN của KTTT, đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa hoạt động sản xuất kinh doanh với tính chất tƣ nhân hóa về chiếm hữu, mâu thuẫn này không có trong nền kinh tế tự cung tự cấp. KTTN trong nền KTTT sẽ vận động, phát triển theo hƣớng xã hội hóa ngày càng cao dƣới các hình thức công ty cổ phần, công ty hợp danh. KTTN trong nền KTTT ra đời là kết quả xóa bỏ sở hữu tƣ nhân, KTTN trong nền kinh tế tự cung, tự cấp.
Chỉ có KTTN trong nền KTTT mới có khả năng phát triển dẫn đến sở hữu xã hội thông qua sự biến đổi và phát triển của LLSX. KTTN trong các chế độ chính trị khác nhau thì bản chất có khác nhau. Trong nền KTTT tƣ bản chủ nghĩa, KTTN giữ vai trò thống trị, nó phù hợp với trình độ xã hội hóa của LLSX. Trong nền KTTT định hƣớng XHCN do Đảng cộng sản lãnh đạo thì KTTN là một bộ phận trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
Nó chịu tác động qua lại giữa các thành phần khác và sự định hƣớng của Nhà nƣớc do Đảng cộng sản lãnh đạo. Ở đây KTTN vẫn còn bóc lột, nhƣng mức độ bóc lột đã đƣợc điều chỉnh phù hợp với lợi ích của xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. KTTN trong nền KTTT định hƣớng XHCN ở nƣớc ta là một bộ phận trong nền KTTT định hƣớng XHCN, nó chịu sự tác động; phát triển trong khuôn khổ chiến lƣợc phát triển KT-XH của đất nƣớc và theo định hƣớng các chính sách của Nhà nƣớc. KTTN của nƣớc ta đại bộ phận mới đƣợc tái lập và xây dựng từ khi có đƣờng lối đổi mới của Đảng, chủ yếu từ 1990 trở lại đây.
Phần lớn các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN ở nƣớc ta có quy mô vừa và nhỏ, trình độ công nghệ còn lạc hậu, khả năng đầu tƣ mở rộng và đầu tƣ chiều sâu còn hạn chế. Luan van 19 Với những đặc điểm trên đây KTTN của nƣớc ta không còn thuần túy là KTTN nhƣ ở các nƣớc tƣ bản mà đã có những thay đổi trong bản chất của nó. Tuy nhiên đó không phải là thay đổi căn bản. Đồng thời những đặc điểm trên cũng cho thấy KTTN ở nƣớc ta mới đƣợc tái lập trở lại chƣa lâu nên thời gian qua mới là thời kỳ tích lũy nguyên thủy, nên cần tạo điều kiện để nó có thể đạt tới đỉnh cao trong phát triển, phát huy tối đa vai trò với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, bắt kịp với trình độ các nƣớc trong khu vực và trên thế giới.
Từ những phân tích trên có thể quan niệm, KTTN là một TPKT trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về TLSX (hoặc vốn), với nhiều quy mô tổ chức kinh tế khác nhau tương ứng với từng cấp độ phát triển của các hình thức sở hữu được pháp luật quy định, thừa nhận. * Bản chất của kinh tế tư nhân: Về quan hệ sở hữu: Quan hệ sở hữu của KTTN là quan hệ chiếm hữu tƣ nhân về TLSX (hoặc vốn) cũng nhƣ phần của cải vật chất đƣợc tạo ra từ những TLSX (hoặc vốn) đó. Đây là đặc trƣng, tiêu chí cơ bản để phân biệt KTTN với các TPKT khác. Có hai loại sở hữu tƣ nhân, đó là sở hữu tƣ nhân nhỏ và sở hữu tƣ nhân lớn.
Về quan hệ quản lý. Quan hệ quản lý trong các tổ chức KTTN cũng đƣợc chia thành hai loại phù hợp với hai cấp độ phát triển của quan hệ sở hữu đó là: quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tƣ nhân nhỏ và quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tƣ nhân lớn. Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phƣơng thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quy định của cơ quan Nhà nƣớc hoặc từ cơ quan quản lý, do vậy họ luôn tìm mọi cách để có thể đạt đƣợc lợi nhuận cao nhất, kể cả việc trốn lậu thuế. Về quan hệ phân phối.
Đối với sở hữu tƣ nhân nhỏ thì quan hệ phân phối là tự phân phối trong nội bộ tổ chức kinh tế của họ; mang tính tự nguyện dựa Luan van 20 vào thỏa thuận của các thành viên, ít bị ràng buộc bởi các quan hệ pháp lý. Còn đối với sở hữu tƣ nhân lớn thì quan hệ phân phối căn cứ vào sở hữu số lƣợng TLSX (hoặc vốn) và giá trị, hiệu quả sức lao động dƣới sự tác động của quy luật KTTT và những định hƣớng của pháp luật hiện hành. Đặc điểm của kinh tế tư nhân - Một là, về quy mô tổ chức kinh tế, KTTN dựa trên trình độ phát triển nhất định của LLSX, mỗi loại hình tổ chức KTTN đƣợc tổ chức một cách phù hợp. Với sở hữu tƣ nhân nhỏ thì có hình thức tổ chức KTTN chủ yếu là hộ sản xuất kinh doanh và trang trại.
Với sở hữu tƣ nhân lớn thì có hình thức tổ chức KTTN là các loại hình DNTN. Nhƣng nhìn chung, số lƣợng các cơ sở kinh doanh của KTTN rất lớn,nhƣng quy mô sản xuất kinh doanh trong các đơn vị thƣờng nhỏ.