CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số tại doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Việc làm Quan niệm về việc làm không phải là bất biến, cố định mà có sự thay đổi. Nó luôn được xem xét trên nền tảng của một chế độ chính trị, gắn với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại. Khi trình độ phát triển mọi mặt, đặc biệt là định hướng chính trị của một quốc gia thay đổi, quan niệm việc làm cũng biến đổi. Ở những thời kỳ khác nhau quan niệm về việc làm cũng có sự khác nhau nhất định.
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm như sau: "Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật" Ở Việt Nam, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, còn người làm kinh tế gia đình, kinh doanh, hành nghề cá thể thì chưa thực sự được xem là có việc làm. Quan điểm đó dẫn đến tình trạng mọi người chen chân nhau tìm việc làm trong khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể. Đó là một trong những nguyên nhân làm cho số người làm việc trong khu vực kinh tế quốc doanh tăng lên quá mức so với khối lượng sản xuất, công tác đảm Luan van 6 nhận; kinh tế tập thể phát triển nhanh về số lượng nhưng thiếu vững chắc; còn kinh tế gia đình giảm sút; kinh tế tư nhân, cá thể không phát triển được. Tình hình đó gây tác hại không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, làm mai một khá nhiều nguồn công việc làm trong xã hội, đưa vấn đề giải quyết việc làm đến chỗ khó khăn, bế tắc.
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, quan niệm về việc làm đã có sự thay đổi. Trên cơ sở vận dụng khái niệm việc làm của ILO và nghiên cứu điều kiện cụ thể của Việt Nam, chúng ta đã có khái niệm thống nhất về việc làm được khẳng định trong điều chương II Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" Từ những quan niệm trên ta thấy: Khái niệm việc làm bao hàm các nội dung sau: + Là hoạt động lao động của con người. + Hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập. + Hoạt động lao động đó không bị pháp luật cấm.
Với khái niệm việc làm như trên đã xoá bỏ được quan niệm cứng nhắc trước đây là chỉ những người "trong biên chế nhà nước" mới là người có việc làm. Việc làm không chỉ trong biên chế, mà còn ngoài biên chế, không chỉ ngoài xã hội, mà còn tại gia đình. Với khái niệm việc làm như vậy, tất cả những ai đang làm việc trong các thành phần kinh tế, trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, xí nghiệp, trường học hoặc tại gia đình (kể cả nội trợ) đều được coi là có việc làm. Dân tộc thiểu số Dựa trên những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội về những đặc thù của quá trình hình thành dân tộc ở Việt Nam, cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, các nhà khoa học đưa ra hai khái niệm dân tộc theo nghĩa rộng và hẹp như sau: Luan van 7 Theo nghĩa rộng: Dân tộc hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi Nhà nước, thiết lập trong một lãnh thổ nhất định, ban đầu do sự tập hợp của nhiều bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnic) của bộ phận tộc người.Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội trong khu vực và bản thân.
Theo nghĩa hẹp: Dân tộc đồng nghĩa với tộc người, dân tộc đó là một cộng đồng tộc người (đa số hoặc thiểu số) được hình thành trong lịch sử, ổn định, có ngôn ngữ riêng của tộc người, đồng thời cư trú trên một lãnh thổ nhất định, các thành viên của tộc người đó cùng chung một vận mệnh lịch sử, cùng chung lợi ích về chính trị, kinh tế và cuối cùng là có chung một nền văn hoá mang bản sắc tộc người. Như vậy, khái niệm dân tộc theo nghĩa hẹp dùng để chỉ tất cả các dân tộc (tộc người) từ trình độ phát triển thấp (đang ở trong phạm trù xã hội nguyên thuỷ) đến cao (đạt tới sự hình thành Nhà nước), miễn là nó có đủ bốn đặc trưng cơ bản sau: Chung ngôn ngữ; Chung lãnh thổ; Chung lợi ích; Có một nền văn hoá chung, trong đó quan trọng nhất là ý thức tự giác tộc người. Ở Việt Nam, khái niệm dân tộc thiểu số được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật, cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn. Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại Khoản 2, Điều 4: "Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Theo giáo trình quản lí Nhà nước về dân tộc và tôn giáo của Học viện hành chính Quốc Gia thì “Dân tộc thiểu số được hiểu là dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc kinh”. Như vậy, dân tộc thiểu số là một tộc người chung ngôn ngữ, chung lãnh thổ, chung lợi ích, chung văn hóa có số dân ít hơn so với dân tộc đa số là dân tộc kinh. Luan van 8 Khái niệm tạo việc làm và tạo việc làm cho lao động dân tộc thiểu số Tạo việc làm cho người lao động là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, được toàn thế giới cam kết trong tuyên bố về chương trình hành động toàn cầu tại thủ đô Cô - pen - ha - ghen Đan Mạch vào tháng 3/1995. Tạo việc làm cho người lao động được hiểu là tổng thể các quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động có cơ hội làm việc với chất lượng việc làm và thu nhập ngày càng cao.
Quan niệm này cho thấy, tạo việc làm chính là để khai thác triệt để tiềm năng của người lao động, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả. Tạo việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ: tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần vào xây dựng quê hương đất nước. Đối tượng được tạo việc làm: là những người trong độ tuổi lao động mà trong 12 tháng qua kể từ thời điểm điều tra đã ký được hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động và những người tự tạo việc làm. Tạo việc làm là một trong những vấn đề quan trọng cần phải giải quyết của mỗi quốc gia.
Dựa trên khái niệm tạo việc làm có thể hiểu: Tạo việc làm cho lao động dân tộc thiểu số là tổng thể các hoạt động đảm bảo cho người lao động dân tộc thiểu số có việc làm, có cơ hội thực hiện quyền và nghĩa vụ bản thân để tạo ra thu nhập, nuôi sống bản thân và gia đình. Các hoạt động tạo việc làm cho lao động dân tộc thiểu số có thể bao gồm: đào tạo, nâng cao kỹ năng và trình độ cho lao động dân tộc thiểu số; khuyến khích doanh nghiệp tiếp nhận lao động dân tộc thiểu số; đưa ra các ưu đãi về thuế, hỗ trợ về tài chính cho doanh nghiệp sử dụng lao động người dân tộc thiểu số….2 Đặc điểm tạo việc làm cho lao động dân tộc thiểu số Việc làm của lao động dân tộc thiểu số có một số đặc điểm như: chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp; mang tính cộng đồng, chủ yếu làm theo kinh Luan van 9 nghiệm… Với những đặc điểm cơ bản về việc làm của lao động dân tộc thiểu số đã nêu, công tác tạo việc làm cho lao động dân tộc thiểu số cũng phải có những đặc thù riêng. Theo đó, đặc điểm tạo việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số thể hiện ở một số điểm như sau: Thứ nhất, tạo việc làm của lao động dân tộc thiểu số chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Nolwen.HenaffJean-Yves (2001) nhận định: “Lao động dân tộc thiểu số chậm thích nghi hơn với việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp so với lao động người Kinh”. Những việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp của lao động dân tộc thiểu số cũng chủ yếu là trên những ngành nghề truyền thống và du lịch trên cơ sở khai thác bản sắc văn hóa dân tộc.
Người lao động dân tộc thiểu số thường làm việc trong những ngành nông, lâm nghiệp - những loại việc làm không đòi hỏi, yêu cầu trình độ cao. Việc làm của lao động DTTS phần nhiều phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và sức lao động của chính bản thân người lao động. Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu việc làm của người lao động dân tộc thiểu số càng mang tính thủ công, nặng nhọc và có thu nhập thấp và ẩn chứa nhiều nguy cơ thiếu việc làm hữu hình. Với đặc điểm về việc làm của lao động DTTS như trên nên để tạo việc làm cho lao động DTTS cần có những chính sách quan tâm phát triển nông nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nông nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh góp phần tạo nhiều việc làm hơn cho lao động DTTS.
Ngoài ra, để tạo việc làm cho lao động DTTS trong lĩnh vực phi nông nghiệp phải thúc đẩy phát triển các ngành nghề truyền thống dựa vào những yếu tố văn hóa, tập quán canh tác của đồng bào.