Chương 1. Cơ sở lý luận về cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn của ngân hàng chính sách xã hội. Phân tích thực trạng cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn tại NHCSXH tỉnh Hà Giang Chương 3. Giải pháp phát triển cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn tại NHCSXH tỉnh Hà Giang 8 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY SẢN XUẤT KINH DOANH VÙNG KHÓ KHĂN CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Khái quát chung về hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn 1. Một số khái niệm - Hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật dân sự thì “hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc lĩnh vực này”.
Như vậy với vai trò là một chủ thể, hộ gia đình là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Kể từ khi được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, các hộ gia đình được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật tư kỹ thuật, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra. Có thể hiểu kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định. Sự tồn tại của kinh tế hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và tài nguyên khác nhằm triển khai sản xuất, thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu chính đáng.
- Vùng khó khăn là vùng được thụ hưởng chính sách tín dụng đối với hộ gia đình sản xuất, kinh doanh quy định tại Quyết định này bao gồm các xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) quy định trong Danh mục ban hành kèm theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 03 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn. - Hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn (HSXKDVKK) là hộ gia đình, bao gồm hộ gia đình làm kinh tế trang trại không phải là hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ 9 mới thoát nghèo thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm, có phương án sản xuất kinh doanh, được NHCSXH cho vay và thực hiện nghĩa vụ trả gốc, lãi và các nghĩa vụ liên quan trong quan hệ tín dụng. Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam là tổ chức được giao thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn theo quy định tại Quyết định 31/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 và Quyết định số 306/QĐ-TTg ngày 26/2/2016 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh mức cho vay đối với hộ gia đình SXKD tại vùng khó khăn. Đặc điểm hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn - Các hộ gia đình thực hiện các hoạt động kinh tế theo một cách thức tổ chức riêng trong phạm vi gia đình.
Đa phần họ đều có đức tính cần cù chịu khó, có khát vọng ý chí làm giàu ngay trên chính vùng đất cằn cỗi, khó khăn, khắc nghiệt về thời tiết bằng các ngành nghề truyền thống do cha ông để lại. - Tại các vùng khó khăn theo danh mục do Chính phủ công bố, các hộ gia đình chủ yếu tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Một số bộ phận khác có hoạt động phi nông nghiệp tuy nhiên còn ở mức độ hạn chế. Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh.
- Trong kinh tế hộ gia đình, chủ hộ là người sở hữu nhưng cũng là người lao động trực tiếp, tận dụng những lao động sẵn có trong gia đình. Họ thường tranh thủ thời gian nhàn rỗi, nông nhàn ngoài công việc nông nghiệp để tham gia sản xuất kinh doanh tạo thêm thu nhập cho gia đình. Tùy điều kiện cụ thể, họ có thể thuê mướn thêm lao động. - Quy mô sản xuất của các hộ gia đình thường nhỏ, vốn đầu tư ít, ít đầu tư mua sắm vật tư, thiết bị công nghệ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Sản xuất của kinh tế hộ còn mang tính tự cung, tự cấp trong phạm vi nhỏ, chưa được tiếp cận với những thị trường rộng lớn mang tính chuyên nghiệp cao. 10 - Quá trình sản xuất chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công và công cụ truyền thống, do đó năng suất lao động thấp, lợi nhuận mang lại chưa cao. Do vậy, tích lũy của hộ chủ yếu chỉ dựa vào lao động gia đình là chính. - Trình độ quản lý và kiến thức chuyên môn về khoa học kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi của chủ hộ rất hạn chế, chủ yếu là theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại cho cho đời sau.
Vì vậy, nhận thức của chủ hộ về cây trồng, vật nuôi, phòng chữa bệnh chỉ dừng lại ở mức kiến thức kinh nghiệm. Khả năng tiếp cận kinh tế thị trường, pháp luật về ngành nghề kinh doanh cũng như tiếp cận với cơ quan Nhà nước, công nghệ bao gồm công nghệ quản lý, kinh doanh và công nghệ thông tin, năng lực quản lý chưa hiệu quả do hạn chế về trình độ quản lý. - Nguồn vốn kinh doanh chủ yếu dựa vào lợi nhuận để lại (nếu có) và tín dụng chủ yếu huy động từ bạn bè, người thân, người trong gia đình. Việc huy động vốn từ các tổ chức tín dụng cho các hộ kinh doanh đang còn rất nhiều bất cập do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Bản thân họ chưa mạnh dạn đầu tư vì e ngại rủi ro từ thị trường đầu ra cũng như rủi ro thiệt hại từ sản phẩm họ làm ra. Một phần tại các vùng khó khăn này, các ngân hàng thương mại cũng không muốn cho vay vì các chủ thể này chưa đủ đáp ứng điều kiện cho vay có tài sản đảm bảo, phương án sản xuất kinh doanh chưa mang lại hiệu quả cao. Vì vậy, đa phần các hộ gia đình đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình kinh doanh, trong đó, khó khăn nhất là thiếu vốn và khó tiếp cận cácnguồn vốn vay. Sự cần thiết cho vay ưu đãi hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn a.
Đối với HSXKD VKK - HSXKD VKK sử dụng lao động giải quyết nhiều việc làm. HSXKD VKK sử dụng lao động nhàn rỗi trong gia đình, thuê thêm lao động ngoài gia đình khi mở rộng sản xuất, kinh doanh góp phần giải quyết việc làm thường xuyên, nâng cao thu nhập của bộ phận lao động nông thôn. Qua đó, nâng cao đời sống, ổn định an ninh trật tự tại vùng khó khăn. - Thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, HSXKDVKK là nhân tố của quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa tại vùng khó khăn.
Để tham gia quá 11 trình đó, HSXKDVKK không ngừng áp dụng những tiến bộ khoa học trong sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ quản lý kinh doanh, cũng như tính thích ứng thị trường, thông qua tính tích cực khi đầu tư vốn cho HSXKDVKK tạo được những chuyển biến trong quá trình phát triển sản xuất hàng hóa tại vùng khó khăn. - Góp phần tăng tích lũy thu nhập, HSXKDVKK được đầu tư vốn, kỹ năng quản lý sẽ không ngừng cải tiến sản xuất, mở rộng kinh doanh góp phần vào sự phát triển kinh tế vùng khó khăn, không ngừng nâng cao thu nhập cho người dân, dần có ý thức trả nợ, vươn lên làm giàu. Quá trình tích lũy kinh nghiệm, vốn của HSXKDVKK là động lực của tích lũy xã hội tại vùng khó khăn. Đối với xã hội - Cho vay HSXKDVKK phản ánh rõ nét sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phát triển kinh tế.
- Cho vay HSXKDVKK tạo điều kiện thu hút lao động mới, nhờ vậy tình trạng thiếu việc làm sẽ được giải quyết, góp phần khắc phục và giảm các tệ nạn xã hội đang có nguy cơ phát triển. - Cho vay HSXKDVKK giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, khắc phục bớt những bất cập và khiếm khuyết về mặt xã hội của nền kinh tế thị trường, sự công bằng của những HSXKDVKK được bảo đảm. HSXKDVKK nếu được khuyết khích sẽ cố gắng lao động tạo ra của cải cho xã hội. - Giảm tệ nạn cho vay nặng lãi.
HSXKDVKK do hoàn cảnh bắt buộc hoặc để chi dùng cho sản xuất, hoặc để mở rộng kinh doanh cho kịp mùa vụ, đáp ứng thì trường họ phải chấp nhận vay tín dụng đen với lãi suất cao. Chính vì thế khi nguồn vốn tín dụng ưu đãi đến tận tay KSXKDVV với số lượng khách hàng lớn thì các chủ cho vay nặng lãi sẽ không có thị trường hoạt động - Giúp HSXKDVV và người nghèo có việc làm, nâng cao kiến thức tiếp cận thị trường, có điều kiện hoạt động HSXKDVKK trong nền kinh tế thị trường. Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho sản xuất kinh doanh để xoá đói giảm nghèo, thông qua kênh tín dụng thu hồi vốn và lãi đã buộc những người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như 12 thế nào để có hiệu quả kinh tế cao. Để làm được điều đó họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý từ dó tạo cho họ tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế.
Mặt khác, khi số đông người nghèo đói tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá thông qua việc trao đổi trên thị trường làm cho họ tiếp cận với kinh tế thị trường một cách trực tiếp. - Cung ứng vốn cho HSXKDVKK và các đối tượng khác góp phần xây dựng nông thôn mới. - Xoá đói giảm nghèo và xây dụng nông thôn mới là nhiệm vụ của toà Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành.