đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của đề tài. z 7 Chương 2 “Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước”. Trong phần này, tác giả lược khảo các lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng và ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng đến thu nhập. Do đó, thông tin bất cân xứng trong thị trường tài chính, lý thuyết kinh tế phát triển, lý thuyết sinh kế bền vững, cơ sở kinh tế học của tài chính vi mô được xem là các lý thuyết nền tảng.
Chương 3 “Phương pháp nghiên cứu”. Quy trình nghiên cứu, mô hình thực nghiệm và các phương pháp được lựa chọn tương ứng với từng mục tiêu sẽ được trình bày cụ thể trong chương này. Chương 4 “Kết quả nghiên cứu và thảo luận”. Chương này sẽ trình bày kết quả thống kê mô tả, phân tích định lượng và thảo luận các kết quả nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu đầu tiên.
Chương này cũng sẽ trình bày kết quả thống kê mô tả, phân tích định lượng và thảo luận các kết quả nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ hai. Chương 5 “Kết luận và kiến nghị”. Cuối cùng, Chương 5 sẽ tổng kết các kết quả nghiên cứu chính. Từ đó, một số hàm ý chính sách phù hợp cũng được khuyến nghị nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn của hộ gia đình nông thôn trong mối tương quan với thu nhập.
z 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng (i) Thông tin bất cân xứng Thông tin bất cân xứng (asymmetric information) hay thông tin không hoàn hảo (imperfect information) được giới thiệu lần đầu tiên bởi Akerlof (1970) mà dẫn đến các vấn đề lựa chọn nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard) được xem là các lý thuyết nền tảng giải thích cho sự hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình, đặc biệt là các hộ gia đình nghèo với mức thu nhập thấp (Stiglitz và Weiss, 1981; Williamson, 1987). Akerlof (1970) phát triển lý thuyết thông tin bất cân xứng thông qua “thị trường quả chanh”. Lập luận cơ bản của Akerlof trong nhiều thị trường đó là người mua sử dụng thống kê thị trường để đo lường giá trị của một nhóm hàng hóa nào đó.
Do vậy, người mua chỉ nắm bắt được giá trị trung bình của toàn bộ thị trường, trong khi người bán có thông tin đầy đủ và tốt hơn của từng loại mặt hàng cụ thể. Trong trường hợp này xuất hiện thông tin bất cân xứng, tức là tình trạng trong một giao dịch một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn bên còn lại. Theo đó, khi người bán sản phẩm có thông tin tốt hơn về chất lượng sản phẩm hơn người mua, “thị trường quả chanh” phát triển khi sản phẩn chất lượng thấp đẩy sản phẩm chất lượng cao ra ngoài thị trường. Tín dụng là nguồn lực khan hiếm và bên đi vay có tiếp cận được nguồn lực này hay không còn phụ thuộc vào đánh giá rủi ro của bên cho vay.
Theo lý thuyết cơ bản nhất của kinh tế là cân bằng thị trường, đó là nếu cầu vượt quá cung thì mức giá (lãi suất) sẽ tăng và ngược lại. Giảm nhu vầu và/hoặc tăng cung cho đến khi cung cầu tương đương với mức giá (lãi suất) cân bằng mới. Do đó, quyết định cung cầu tín dụng phụ thuộc vào lãi suất. Tuy nhiên, theo Stiglitz và Weiss (1981), lý z 9 thuyết cung cầu tín dụng dựa trên lãi suất không thể giải thích được hành vi của người cho vay và người đi vay bởi người đi vay không chỉ dựa trên mức lãi suất trên thị trường trong khi người cho vay phải dựa trên thông tin của người đi vay để ra quyết định cho vay.
Theo Stiglitz và Weiss (1981), đối với thị trường tín dụng, lựa chọn nghịch cũng là hệ quả của thông tin bất cân xứng nghĩa là người đi vay tiềm năng có nhiều rủi ro hơn thì thường tìm kiếm các khoản vay và được lựa chọn, trong đó việc phân biệt giữa người đi vay ít rủi ro và nhiều rủi ro được phản ánh trong lãi suất. Tuy nhiên, tăng lãi suất để bù đắp cho chi phí rủi ro tín dụng cao có thể đẩy người đi vay ít rủi ro ra khỏi thị trường. Kết quả là, người cho vay chỉ cho vay những dự án có rủi ro cao. Thông tin bất cân xứng cũng dẫn đến vấn đề rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại, đó là tình trạng người đi vay không còn động cơ để cố gắng hay hành động một cách hợp lý như trước khi giao dịch xảy ra do người cho vay phải gánh chịu một phần của rủi ro.
Hậu quả là người đi vay không trả được nợ. Nói chung, quyết định cấp tín dụng và cấp bao nhiêu phụ thuộc vào thông tin mà người cho vay có được từ người đi vay. Do đó, không phải tất cả người có nhu cầu vay mượn tiếp cận được tín dụng. Một số nghiên cứu cho rằng vấn đề thông tin bất cân xứng trong thị trường tài chính cho các hộ gia đình nghèo và thu nhập thấp dường như nghiêm trọng hơn đối với các hộ gia đình giàu và có mức thu nhập cao.
Các nguyên nhân được chỉ ra là do chi phí sàng lọc và giám sát rất cao (Beck, Demirguc-Kunt và Levine, 2004; Yaron và cộng sự, 1997; Mayo và Mullineux, 2001), trình độ giáo dục của người nghèo thấp và không thể cung cấp tài sản thế chấp cho các định chế tài chính (Binswanger và McIntire, 1987). Kết quả là họ bị loại ra khỏi thị trường tài chính và trong nhiều trường hợp phải dựa vào khu vực kinh tế phi ngân hàng với chi phí rất cao (Meyer và Nagarajan, 2000). z 10 (ii) Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng Mặc dù phát triển tài chính có ảnh hưởng rộng lớn đến nền kinh tế nhưng khả năng tiếp cận tín dụng ở các hộ gia đình là cần thiết để nghiên cứu một cách đầy đủ. tiếp cận tín dụng ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng đang được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều yếu tố cản trở các hộ gia đình sử dụng hệ thống tài chính một cách toàn diện.
Thật vậy, ở các nước với hệ thống tài chính kém phát triển, các hộ gia đình nghèo tiếp cận tín dụng bị hạn chế hơn những những hộ gia đình giàu có. Theo Claessens & Feijen (2007), có ba nhóm nguyên nhân chính cản trở khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình nghèo: Thứ nhất, môi trường thể chế và kinh tế nói chung bất ổn. Sự bất ổn của nền kinh tế vĩ mô, môi trường thể chế yếu kém, sự can thiệp chính phủ quá lớn cũng như thiếu sự cạnh tranh được xem là các nhân tố cản trở khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính nói chung và tiếp cận tín dụng nói riêng. Ngay cả khi có thể tiếp cận được dịch vụ tài chính thì với chi phí đắt đỏ hơn hoặc không thể cung cấp với cách thức có thể thực hiện được.
Thứ hai, cung và cầu không phù hợp. Tiếp cận dịch vụ tài chính nói chung và tiếp cận tín dụng nói riêng có thể vẫn còn hạn chế ngay cả khi loại bỏ được sự yếu kém của môi trường thể chế và điều này cũng đúng với cả thị trường tài chính phát triển nhất. Có nhiều nguyên nhân về sự không phù hợp giữa cung và cầu. Về phía cung, khách hàng là các hộ gia đình nghèo thường không phải là mục tiêu hướng đến của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính bởi các vấn đề thông tin, chi phí giao dịch cao, thực hiện hợp đồng kém,.Về phía cầu, các hộ gia đình thường ít nhạy cảm về tài chính, tỷ lệ không biết chữ cao, không tin tưởng vào các định chế tài chính,…dẫn đến tự hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính.
Thứ ba, sự ảnh hưởng của các lợi ích đặt biệt. Theo Rajan và Zingales (2003), sự phát triển tài chính nói chung và khả năng tiếp cận tín dụng nói riêng bị z 11 khống chế bởi các nhóm lợi ích đặt biệt. Các nhóm này chống lại sự phát triển tài chính bởi nó tạo ra sân chơi bình đẳng và cạnh tranh hơn, làm giảm quyền lực và lợi ích nhóm của họ. Gần đây, tiếp cận dịch vụ tài chính được công nhận là khía cạnh quan trọng của phát triển.
Tăng cường tiếp cận tài chính đòi hỏi sự nỗ lực của chính phủ và các định chế tài chính. Dựa trên cơ sở đó, Claessens & Feijen (2007) đề xuất chín khuyến nghị chính sách, tương ứng với bốn mục tiêu: Mục tiêu thứ nhất, để tăng quy mô và sự thuận tiện để tiếp cận hệ thống tài chính: (i) Tăng quy mô các định chế tài chính và hệ thống tài chính nói chung để hưởng lợi từ kinh tế nhờ quy mô; (ii) Sử dụng mạng lưới hiện có để mở rộng phạm vi tiếp cận; (iii) Cải thiện cơ sở hạ tầng tín dụng. Mục tiêu thứ hai, để ổn định môi trường kinh tế nói chung: (i) Cắt giảm tối thiểu sự điều tiết của chính phủ có thể; (ii) Nâng cao sự cạnh tranh trong hệ thống tài chính. Mục tiêu thứ ba, để giải quyết cung và cầu không phù hợp: (i) Đẩy mạnh tiếp cận toàn diện dịch vụ tài chính; (ii) Giới thiệu sản phẩm một cách sáng tạo và thực tiễn tốt nhất để giải quyết nhu cầu của khách hàng.
Mục tiêu thứ tư, để cải thiện dữ liệu và mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển: (i) Thu thập dữ liệu và mở rộng phạm vi; (ii) Tiến hành nghiên cứu và phân tích thêm về tiếp cận tài chính. Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của tiếp cận tín dụng đến thu nhập (i) Lý thuyết Kinh tế phát triển Một trong những phương pháp phổ biến dùng để đánh giá đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng GDP là sử dụng hàm sản xuất với hai yếu tố đầu vào cơ bản là vốn và lao động. Sự gia tăng sản lượng trong nền kinh tế là do hai thành phần z 12 chính: (i) sự gia tăng của các yếu tố đầu vào; (ii) sự gia tăng của năng suất được đo lường bằng hệ số năng suất tổng hợp các yếu tố (Total Factor Productivity – TFP).