Chương 1 giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu. Trong chương này tác giả đã trình bày sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, đồng thời nêu ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài. Phần phương pháp nghiên cứu, tác giả đã trình bày phương pháp kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan và phương sai thay đổi của mô 123doc 5 hình nghiên cứu, phương pháp ước lượng và kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp nhất. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
RRTD ngân hàng 2. Khái niệm RRTD ngân hàng RRTD là rủi ro đáng kể nhất mà các ngân hàng phải đối mặt và sự thành công trong kinh doanh của họ phụ thuộc vào đo lường chính xác và quản lý hiệu quả rủi ro này ở mức độ lớn hơn bất kỳ rủi ro nào khác (K. Theo Gregoriou và Hoppe (2008), vay ngân hàng là một khoản nợ, đòi hỏi phải phân phối lại tài sản tài chính giữa người cho vay và người đi vay. Khoản vay ngân hàng nghĩa là người vay đã nhận được một khoản tiền từ ngân hàng, và phải hoàn trả trong một thời hạn thỏa thuận, số tiền này được gọi là tiền gốc.
Ngoài ra, các ngân hàng thường thu phí từ người đi vay, đó là lãi cho khoản nợ. Rủi ro liên quan đến các khoản vay là RRTD. Theo Duffie và Singleton (2003) RRTD là nguy cơ vỡ nợ hoặc giảm giá trị thị trường do những thay đổi trong chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng hoặc khách hàng gây ra. Graham và Coyle (2000) xác định RRTD là sự biến động dự kiến về giá trị lợi nhuận ròng và vốn của các ngân hàng do khách hàng thanh toán chậm và không trả được nợ.
Sinkey (1983) giải thích RRTD là tổn thất tài chính của các ngân hàng do khách hàng không tuân thủ các quy định trong hợp đồng. Hiện nay có nhiều cách xác định RRTD. Said và Mohd H.Thiagarajan và cộng sự (2011); Tobias Olweny và Themba M. Shipho (2011), RRTD ngân hàng có thể được đo lường thông qua tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay.
Trong nghiên cứu khác, Laeven và Majnoni (2002), Zribi và Boujelbène (2011) cho rằng RRTD được thể hiện thông qua tỷ lệ giá trị trích lập dự phòng RRTD chia cho tổng tài sản của ngân hàng, vì các tác giả quan niệm rằng dư nợ cho vay chiếm chủ yếu trong tổng tài sản của ngân hàng nên có thể lấy trực tiếp 123doc 6 giá trị tổng tài sản để tính rủi ro. Trong khi đó, RRTD cũng có thể được đo lường bằng cách tính tỷ lệ dự phòng RRTD năm t so với dư nợ cho vay năm t-1. Tiêu chí đo lường này xét đến vấn đề trích lập dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể nên phản ánh chính xác hơn về RRTD (Daniel Foos và cộng sự, 2010; Fadzlan Sufian và Royfaizal R. Chong, 2008; Ong và Heng, 2012).
Nguyên nhân dẫn đến RRTD RRTD gia tăng có thể do nhiều lý do của cả nguồn bên trong và bên ngoài. Theo Nijskens (2011) và Breuer và cộng sự, (2010), các lý do dẫn đến RRTD bao gồm quản trị và kiểm soát quản lý kém, luật không phù hợp, năng lực thể chế hạn chế, chính sách tín dụng không phù hợp, lãi suất thấp, vốn thấp và mức thanh khoản kém, cho vay theo chỉ đạo, cấp phép lớn cho các ngân hàng, bảo lãnh cho vay kém, cho vay thiếu thận trọng, đánh giá tín dụng kém, bảo lãnh cho vay kém, nới lỏng trong đánh giá tín dụng, can thiệp của chính phủ và sự giám sát không đầy đủ của ngân hàng trung ương. Các nghiên cứu đã công nhận những lý do này có thể dẫn đến RRTD trong NHTM. RRTD được coi là hệ quả của rủi ro hệ thống xuất phát từ quan điểm kinh tế vĩ mô.
Các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD có hệ thống là yếu tố kinh tế vĩ mô, thay đổi chính sách kinh tế, thay đổi chính trị và mục tiêu của các đảng cầm quyền. Các yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ việc làm, tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước, chỉ số chứng khoán và biến động tỷ giá, và tình hình biến động của nền kinh tế (Aver, 2008). Những thay đổi trong chính sách kinh tế được biểu thị bằng những thay đổi trong chính sách tiền tệ và tài khóa, thay đổi luật kinh tế, cũng như chính sách thương mại của đất nước. Những thay đổi chính trị hoặc thay đổi trong mục tiêu của các đảng cầm quyền cũng ảnh hưởng đến rủi ro hệ thống.
Tất cả các yếu tố này có thể có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng trả nợ của người vay. Ngoài ra còn có các yếu tố nội bộ có thể gây ra RRTD của các tổ chức tài chính và ngân hàng. Thiếu sót trong thẩm định kinh tế kỹ thuật của phương án vay vốn, xác định không đầy đủ chính sách cho vay, thiếu hệ thống giám sát, tài sản đảm bảo không đủ, đánh giá chủ quan, thẩm quyền phê chuẩn cho vay tự do, thiếu 123doc 7 kiến thức và kỹ năng của cán bộ quan hệ tín dụng, thiếu thông tin đáng tin cậy, thiếu sự phối hợp kịp thời của các bộ phận khác nhau, thiếu hệ thống xếp hạng và xếp hạng tín dụng phù hợp, thiếu độ tin cậy và tính toàn vẹn của dữ liệu… là những yếu tố chính liên quan đến ngân hàng ảnh hưởng đến việc gia tăng RRTD (Bidani, 2010). Đo lường RRTD * Phương pháp đo lường RRTD Bởi vì RRTD là rủi ro quan trọng đối với các ngân hàng, nên việc đo lường rủi ro này cũng luôn được quan tâm.
Do đó, có một số phương pháp khác nhau để đo lường rủi ro này của các ngân hàng. Đo lường RRTD theo Basel II: Phương pháp tiêu chuẩn (SA): yêu cầu các ngân hàng phân loại các rủi ro thành các hạng mục giám sát dựa trên các đặc điểm có thể quan sát được và sau đó thiết lập trọng số rủi ro cố định theo mỗi hạng mục giám sát. Phương pháp tiêu chuẩn cho phép sử dụng đánh giá tín dụng bên ngoài để nâng cao độ nhạy cảm rủi ro so với Basel I. Nếu không có trọng số rủi ro bên ngoài, phương pháp này yêu cầu trong hầu hết trường hợp, sử dụng trọng số rủi ro 100%.
Phương pháp xếp hạng nội bộ (Internal Ratings Basel- IRB): là phương pháp trong đó các NHTM tự mình đánh giá các thành phần rủi ro và mức độ rủi ro của danh mục tài sản có của mình để xác định mức vốn tín dụng an toàn tối thiểu. Phương pháp IRB về xác định tài sản có rủi ro dựa trên các tham số rủi ro của ngân hàng, bao gồm: PD (xác suất không trả nợ) LGD (tỷ trọng tổn thất ước tính) EAD (rủi ro không trả nợ) M (kỳ hạn) ρ (tương quan tài sản) CI (khoảng tin cậy). 123doc 8 IRB được chia thành hai phương pháp: (i) IRB cơ bản (FIRB) và (ii) IRB nâng cao (AIRB). Theo cả hai phương pháp FIRB và AIRB, các ngân hàng cung cấp cho cơ quan thanh tra, giám sát ước tính nội bộ về PD.
Đối với các ngân hàng áp dụng phương pháp FIRB, các thông số khác sẽ được xác định bởi cơ quan thanh tra, giám sát. Các ngân hàng sử dụng phương pháp AIRB sẽ tính toán tất cả các thông số rủi ro (PD, LGD, EAD và thời hạn hiệu lực (M) bằng cách sử dụng mô hình nội bộ của họ). Khi tính PD, LGD, EAD và M, một ngân hàng có thể dựa vào dữ liệu dài hạn có được từ kinh nghiệm của họ, hoặc từ các nguồn khác bên ngoài nếu ngân hàng có thể chứng minh nguồn dữ liệu đó phù hợp với hoạt động của mình. Phương pháp cơ bản và nâng cao IRB khác nhau chủ yếu ở đầu vào được cung cấp bởi một ngân hàng dựa trên ước lượng của ngân hàng đó và dựa trên những yếu tố được các cơ quan giám sát xác định.
* Mô hình lượng hóa RRTD: Mô hình Merton: Mô hình Merton được Merton đưa ra vào năm 1974. Trong mô hình Merton, có 1 công ty trách nhiệm hữu hạn mà giá trị tài sản (assets, tức là kể cả nợ) tại các thời điểmtký hiệu là Vt > 0 và có một khoản nợ duy nhất phải trả một lần duy nhất một lượng bằng B tại một thời điểm T trong tương lai. Tại thời điểm T, có 2 tình huống xảy ra: * Hoặc là VT ≥ B, khi đó công ty trả được nợ, và phần chủ sở hữu còn lại sau khi đã trả nợ là VT - B. Bên cho công ty vay nợ lấy lại được toàn bộ số tiền B theo hợp đồng vào thời điểm T.
* Hoặc là VT < B, khi đó công ty vỡ nợ, chủ sở hữu của công ty mất toàn bộ công ty, và bên cho vay chỉ lấy lại được khoản tiền là VT thay vì B. Như vậy, nếu ta gọi Bt là giá trị của khoản nợ vào thời điểm t, thì ta có: BT = min(B, VT) = B – max(0, B – VT) còn giá trị của công ty (sau khi đã trừ nợ) là St = Vt - Bt thỏa mãn công thức: St = max(0, VT – B) 123doc 9 Các công thức trên cho thấy St chính bằng giá trị tại thời điểm t của một quyền chọn bán kiểu Âu với mệnh giá B, thời điểm đáo hạn T, cho tài sản V của công ty. Theo nguyên lý cân bằng giữa quyền chọn mua và quyền chọn bán, ta có thể viết Bt = exp((T – t)r0)B - Pt trong đó r0 là lãi suất không rủi ro, còn Pt là giá của quyền chọn bán kiểu Âu với mệnh giá B, thời điểm đáo hạn B, cho tài sản V của công ty. Để tính giá trị của St và Bt, Merton dùng mô hình Black-Scholes cho giá quyền chọn kiểu Âu.
Từ đó ta có công thức Black-Scholes cho giá trị Bt của khoản nợ, với thêm hai tham số: lãi suất không rủi ro, và biến động của V. Nếu ta viết thì tức là là lãi suất (có rủi ro) của khoản nợ tại thời điểmt. Độ chênh lệch gọi là chênh lệch lãi suất, và RRTD càng cao thì chênh lệch lãi suất càng lớn. Một số hệ quả đơn giản mà quan trọng: * Bt = exp((T – t)r0)B, trong đó exp((T – t)r0)B chính là giá trị của khoản vay vào thời điểm nếu như không có rủi ro.
Độ chênh lệch exp((T – t)r0)B – Bt =Pt chính bằng giá trị của quyền chọn bán kiểu Âu. * Biến động càng lớn thì RRTD càng cao, chênh lệch lãi suất càng lớn, và giá trị của khoản nợ càng giảm.