phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận án gồm 4 chƣơng. Chƣơng 1, tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về mối liên hệ giữa kế toán và thuế. Các chỉ tiêu để đánh giá bao gồm lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, mối liên hệ này trên thế giới và phân loại mối liên hệ cũng đƣợc đề cập. Cũng trong chƣơng 1, các nghiên cứu liên quan đến mối liên hệ giữa kế toán và thuế đƣợc tìm hiểu để xem xét về cách tiếp cận, về phƣơng pháp nghiên cứu và những vấn đề đã làm đƣợc cũng nhƣ chƣa làm đƣợc trong những nghiên cứu trƣớc đây trên thế giới và Việt Nam.
Từ đó, làm cơ sở để đề xuất phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu đƣợc trình bày trong chƣơng 2 và chƣơng 3. Chƣơng 2 và chƣơng 3 có kết cấu riêng biệt từng chƣơng theo hai mảng nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn. Mỗi chƣơng đều có những nội dung cơ bản nhƣ giới thiệu, phƣơng pháp nghiên cứu, các nội dung nghiên cứu chính, kết luận. Chƣơng 2 trình bày nghiên cứu trên phƣơng diện lý thuyết (De Jure), xem xét tiến triển mối liên hệ giữa kế toán và thuế ở Việt Nam bằng phƣơng pháp lịch sử từ năm 1995 đến nay, đồng thời đánh giá mối liên hệ về nguyên tắc, quy định trong đo lƣờng lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế.
Chƣơng 3 liên quan đến mối liên hệ giữa kế toán và thuế trên phƣơng diện thực tiễn (De Facto) bao gồm hai phần: đánh giá ảnh hƣởng của thuế đối với kế toán và phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế. Tất cả những kết quả phân tích thông qua mô hình hồi quy sẽ làm cơ sở cho việc đƣa ra kết luận về mối liên hệ giữa kế toán 10 luan an và thuế trên thực tiễn, đồng thời so sánh đối chiếu với kết quả nghiên cứu lý thuyết ở chƣơng 2. Dựa trên những kết quả nghiên cứu đạt đƣợc ở chƣơng 2 và chƣơng 3 để tổng kết, đƣa ra kết luận cho toàn bộ luận án, đồng thời qua những kết quả đó đề xuất những hàm ý chính sách ở góc độ vĩ mô và vi mô trong chƣơng 4. 11 luan an CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA KẾ TOÁN VÀ THUẾ 1.
Giới thiệu Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa kế toán và thuế đƣợc thực hiện trong những thập niên cuối thế kỷ XX và phát triển mạnh trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI. Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa kế toán và thuế ở nƣớc ngoài rất đa dạng về chủ đề, về cách tiếp cận, và có thể tiến hành trên phạm vi rộng ở nhiều quốc gia (chủ yếu tiến hành ở các quốc gia Châu Âu) hoặc theo từng quốc gia riêng lẻ nhƣ các nƣớc NaUy, Úc, Romania, Ý, Tunisia, Tây Ban Nha.; Trong khi đó ở nƣớc ta nghiên cứu về chủ đề này chỉ mới xuất hiện gần đây. Xét về mặt lý thuyết, các nghiên cứu xuất phát từ nguyên tắc đo lƣờng lợi nhuận (doanh thu, chi phí) trong kế toán, và khuôn khổ lý thuyết về chi phí chính trị để tìm hiểu ảnh hƣởng của các chính sách thuế đến lợi nhuận kế toán. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa kế toán và thuế tạo ra một số lý luận mới về chủ đề này.
Các nghiên cứu gần đây ở các nƣớc cũng dựa vào thuyết phổ biến cái mới (Diffusion of innovation theory) và lý thuyết ngữ cảnh để phổ biến các luận điểm mới đó ở mỗi quốc gia. Từ những lý thuyết cơ bản đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất những phƣơng pháp luận cơ bản làm nền tảng cho những nghiên cứu về vấn đề mối liên hệ giữa kế toán và thuế. Trong chƣơng này, cơ sở lý thuyết về mối liên hệ giữa kế toán và thuế sẽ đƣợc trình bày một cách có chọn lọc. Các khái niệm về kế toán, lợi nhuận kế toán, thuế, thu nhập chịu thuế sẽ đƣợc đề cập trong mục 1.2; sơ lƣợc về các quan điểm quốc tế và lý luận cơ bản về mối liên hệ giữa kế toán và thuế sẽ đƣợc đề cập trong mục 1.3; tổng quan nghiên cứu sẽ đƣợc trình bày trong mục 1.4 và cuối cùng kết luận chƣơng 1.
Khái quát kế toán và thuế 1. Kế toán và lợi nhuận kế toán 1. Kế toán 12 luan an Theo Luật Kế toán, bộ luật số 88/2015/QH13 quy định rõ "Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dƣới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động". Kế toán thông qua Chế độ và chuẩn mực kế toán để lập BCTC nhằm cung cấp thông tin cho ngƣời sử dụng trong việc ra quyết định.
Một cách tổng quan, mục tiêu của kế toán là cung cấp thông tin hữu ích cho các nhóm ngƣời sử dụng khác nhau nhƣ Nhà nƣớc, nhà đầu tƣ, ngƣời cho vay, chủ nợ, cổ đông,. Để đạt đƣợc mục tiêu này, một số nguyên tắc kế toán phải đƣợc áp dụng nhƣ: Cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng, trọng yếu (Chuẩn mực kế toán 01 – VAS01: Chuẩn mực chung). Mục tiêu của kế toán có thể thay đổi và sự thay đổi này chịu ảnh hƣởng bởi các yếu tố môi trƣờng kinh tế - xã hội của kế toán (Choi & mueller, 1992; Mueller, 1967). Kế toán đƣợc hỗ trợ bởi các tổ chức kế toán nhƣ các nhà hoạch định chính sách, các công ty dịch vụ kế toán - kiểm toán, các tổ chức nghề nghiệp kế toán.
Báo cáo tài chính thƣờng đƣợc kiểm toán bởi các công ty dịch vụ kế toán – kiểm toán và đƣợc tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán chung đƣợc thừa nhận (GAAP) (Horngren & cộng sự, 2006). GAAP đƣợc thiết lập bởi các tổ chức đặt tiêu chuẩn khác nhau nhƣ Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) ở Hoa Kỳ và Hội đồng chuẩn mực báo cáo tài chính ở Vƣơng quốc Anh. Vào năm 2012, "tất cả các nền kinh tế lớn" hội tụ hoặc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS) (IFRS Foundation, 2012). Đối với kế toán, chỉ tiêu lợi nhuận kế toán là một chỉ tiêu quan trọng cung cấp thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp có liên quan trực tiếp đến thuế, và việc ra quyết định của nhà quản trị, nhà đầu tƣ đến hoạt động của doanh nghiệp.
Lợi nhuận kế toán Lợi nhuận kế toán là lợi nhuận của một doanh nghiệp bao gồm tất cả các khoản doanh thu và chi phí đƣợc xác định theo khuôn khổ kế toán nhất định. Lợi nhuận của doanh nghiệp đƣợc xác định bằng các con số trong báo cáo tài chính của một tổ chức. Ví dụ về các khuôn khổ kế toán là các Nguyên tắc kế toán chung đƣợc thừa nhận (GAAP) và các chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS). Các khuôn khổ này yêu cầu sử dụng cơ sở hạch toán kế toán để tính toán số lợi nhuận kế toán.
Nhƣ vậy, nếu 13 luan an tổng thu nhập vƣợt quá tổng chi phí ghi nhận, phần còn lại là một khoản lợi nhuận kế toán. Ngƣợc lại, nếu tổng doanh thu thu đƣợc ít hơn tổng số chi phí ghi nhận, phần còn lại là khoản lỗ kế toán. Phƣơng trình lợi nhuận kế toán là: Doanh thu theo GAAP quốc gia hoặc IFRS - Chi phí theo GAAP quốc gia hoặc IFRS = Lãi / lỗ của kế toán. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17, Lợi nhuận kế toán được định nghĩa là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trƣớc khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, đƣợc xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán (VAS 17, đoạn 03).
Đo lƣờng lợi nhuận kế toán phụ thuộc vào nguyên tắc ghi nhận doanh thu4 và chi phí trong kế toán. Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu đƣợc trong kỳ kế toán. Doanh thu đƣợc ghi nhận (trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) khi thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai có liên quan tới sự gia tăng về tài sản hoặc giảm bớt nợ phải trả và giá trị gia tăng đó phải xác định đƣợc một cách đáng tin cậy (VAS 01). Các điều kiện ghi nhận doanh thu (VAS 17) cho thấy rằng việc ghi nhận doanh thu không phụ thuộc vào hóa đơn bán hàng đã lập hay chƣa mà phụ thuộc vào có sự chuyển giao phần lớn lợi ích và rủi ro hay không.
Ghi nhận chi phí để xác định lợi nhuận dựa vào nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng. Nguyên tắc phù hợp đƣợc áp dụng để xác định và ghi nhận các khoản chi phí có gắn kết với doanh thu tạo ra. Nguyên tắc thận trọng đƣợc vận dụng để ghi nhận các khoản chi phí không góp phần tạo ra doanh thu (nhƣ chi phí dự phòng) và chi phí có tạo ra doanh thu nhƣng không đo lƣờng theo cách đáng tin cậy giá trị doanh thu tạo ra (nhƣ chi phí quản lý doanh nghiệp). Thuế và thu nhập chịu thuế 1.
Thuế Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chƣa thống nhất một khái niệm về thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau và theo quan điểm của các nhà kinh tế học khác nhau thì sẽ định nghĩa về thuế khác nhau. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze đƣa ra định nghĩ tƣơng đối cổ điển về thuế: "Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp 4 Doanh thu đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và thu nhập khác. 14 luan an cho nhà nƣớc thông qua con đƣờng quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nƣớc" (Gaston,1934).
Đứng trên góc độ phân phối thu nhập thì thuế là một phần của hệ thống phân phối thu nhập quốc dân với mục tiêu chính là tạo nguồn thu cho quốc gia. Ngoài ra, Nhà nƣớc sử dụng hệ thống thuế để kiểm soát toàn bộ nền kinh tế, đạt đƣợc các mục tiêu xã hội và có thể khích lệ hoặc hạn chế một số hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế. Cân bằng các mục tiêu này là mối quan tâm của bất kỳ hệ thống thuế nào, điều này đòi hỏi hệ thống thuế phải đạt đƣợc một số tiêu chuẩn nhƣ: Công bằng, hiệu quả, lâu dài, đáng tin cậy, thuận lợi và kinh tế (James & Nobes, 1978). Hầu hết các quốc gia đều có một hệ thống thuế phù hợp với yêu cầu phát triển của quốc gia, của cộng đồng và sự đồng tình của chính phủ.