Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TIẾP CẬN TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN 1. Cơ sở lý luận về tiếp cận tín dụng nông nghiệp của các hộ nông dân 1. Khái niệm, bản chất kinh tế hộ nông dân 1. Khái niệm hộ nông dân Hộ: là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ [Mc Gê (1989)].
Nông dân: là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng làm ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.
Theo số liệu của Hội Nông dân Việt Nam, hiện nay nước ta có khoảng 13 triệu hộ nông dân Hộ nông dân: Là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp. Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là hoạt động phụ. Ngày nay, trên thế giới có nhiều định nghĩa khách nhau về nông hộ: Theo Frankellis (1988): Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, hộ luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia một phần trong thị trường với mức độ hoàn chỉnh không cao. Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn.
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: Nông hộ là những hộ chủ yếu hoạt động theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Như vậy mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng khái niệm về nông hộ có những điểm sau đây: là những hộ nông dân sống ở vung nông thôn, có ngành 5 nghề sản xuất chính là nông nghiệp, là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Bản chất kinh tế hộ nông dân - Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt. Đất đai thường bị giới hạn về diện tích không thể tăng thêm, nhưng độ phì trong đất có thể tăng, nếu con người biết khai thác sử dụng hợp lý sẽ tạo khả năng tăng năng suất không ngừng.
- Kinh tế hộ nông dân có tính thời vụ: Tính thời vụ là nét đặc thù điển hình nhất của Kinh tế hộ nông dân, đặc biệt là ngành trồng trọt do thời gian lao động không trùng với thời gian sản xuất của các loại cây trồng. Bên cạnh đó, tính thời vụ này cũng do sự biến đổi của thời tiết, khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng khác nhau. - Kinh tế hộ nông dân phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên: Kinh tế hộ nông dân phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nhất là vào đất đai và khí hậu. Đặc điểm này bắt nguồn từ đối tượng lao động của nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi.
Chúng chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có đủ 5 yếu tố cơ bản của tự nhiên là nhiệt độ, nước, ánh sáng, không khí và chất dinh dưỡng. Các yếu tố trên kết hợp và cùng tác động với nhau trong một thể thống nhất - Kinh tế hộ nông dân có khả năng sử dụng hợp lý lao động và tạo việc làm ở nông thôn. Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ. Hộ vừa điều hành quản lý, vừa trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất.
Do sản xuất nông nghiệp mang tình thời vụ, nên lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 40% quỹ thời gian. - Kinh tế hộ nông dân có khả năng tự điều chỉnh cao. Việc điều chỉnh giữa tích lũy, tiêu dùng và đầu tư phát triển sản xuất thường được quyết định theo các mục tiêu của hộ. Do là đơn vị sản xuất gọn nhẹ, linh hoạt, lại làm chủ hoàn toàn quá trình sản xuất nên Kinh tế hộ nông dân có khả năng thích nghi với cơ chế thị trường, tạo ra sức cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
6 - Kinh tế hộ nông dân tự tạo ra nguồn lao động, không chỉ tái sản xuất sức lao động mà còn tái sản xuất ra lao động kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng lao động được đào tạo, trao đổi hàng ngày trong các nông hộ. - Kinh tế hộ nông dân là một đơn vị kinh tế đốc lập nhưng không đối lập với nền kinh tế hợp tác và nền kinh tế Nhà nước. Chính sự phát triển của Kinh tế hộ nông dân đã làm nảy sinh nhu cầu liên doanh liên kết với nhau, hình thành các tổ chức kinh tế hợp tác.
- Kinh tế hộ nông dân giảm được tối đa chi phí quản lý do có sự thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất. Tín dụng nông nghiệp 1. Khái niệm, chức năng tín dụng nông nghiệp a, Khái niệm: Hệ thống tín dụng nông nghiệp là khối liên kết các tổ chức cung cấp các dịch vụ tín dụng cho các cá nhân và tổ chức trong khu vực nông thôn, hiện hữu trên địa bàn nông thôn, với mục tiêu trực tiếp phụ vụ cho nhu cầu địa bàn nông thôn. Các khách hàng của hệ thống tín dụng nông nghiệp thường ít tiếp cận được hoặc không tiếp cận được dịch vụ tín dụng của các Ngân hàng thương mại.
Hệ thống tín dụng thường cung cấp các dịch vụ như nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, bảo hiểm [Fries và cộng sự, (2003)]. Như vậy, thị trường tín dụng nông nghiệp là nơi diễn ra hoạt động cung cầu vốn giữa các chủ thể cho vay vốn và chủ thể đi vay vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tín dụng phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn. b, Chức năng Tín dụng nông thôn góp phần thúc đẩy thị trường tài chính nông thôn: Đầu tư vốn phát triển nông nghiệp - nông thôn báo gồm nhiều định chế khác nhau: Chính thức, bán chính thức, phi chính thức. Tuy nhiên vai trò chủ lực vẫn thuộc về định chế tài chính chính thức.
- Hoạt động tín dụng nông thôn đã góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn, tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn. Bởi lẽ khi có vốn, người nông dân có thể áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật 7 để tăng năng suất, tăng sản lượng, hạ gái thành sản phẩm….Trên cơ sở đó, họ có khả năng dễ dàng trong việc tích tụ và tập trung vốn. - Tín dụng đã góp phần tận dụng khai thác các tiềm năng về đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên. Tiềm năng về phát triền nông thôn nước ta rất lớn, Chính sách tín dụng nếu được Nhà nước quan tâm đúng mức thì sẽ khai thác và phát huy có hiệu quả các tiềm lực ở nông thôn.
Hàng hóa nông sản sẽ phong phú hơn đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu của đất nước. - Tín dụng nông thôn đã góp phần vào xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho nông dân tiếp thu công nghệ mới vào kinh doanh. Vốn tín dụng không các tổ chức tín dụng chính thức không những tham gia vào quá trình sản xuất mà còn là vốn đầu tư trung hạn, dài hạn xây dựng cơ sở vật chất, các công trình phụ vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng như: công nghiệp chế biến nông sản phẩm, các hệ thống tưới tiêu, công trình thủy lợi…nhằm phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. - Tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn.
Kinh tế hàng hóa càng phát triển thì sức cạnh tranh ngày càng rõ, tất yếu dẫn đến phân hóa giàu nghèo ở nông thôn. Như vậy sẽ dẫn đến việc có hộ sẽ phát triển thêm về nông nghiệp, có hộ sẽ rời khỏi nông nghiệp chuyển sang ngành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề truyền thống. Do đó các ngành nghề này sẽ được phục hồi và phát triển. - Tín dụng nông thôn còn tạo cho người dân không ngừng nâng cao trình độ sản xuất, tăng cường quản lý kinh tế , đồng thời tạo tâm lý tiết kiệm trong gia đình.
Hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, lời ăn lỗ chịu. Do vậy ngoài việc hăng say lao động, họ phải áp dụng những quy rình kỹ thuật mới vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Hơn nữa đặc trưng của tín dụng là hoàn trả gốc lãi. Cho nên đã kích thích người nông dân phải tính toán cân nhắc kỹ lưỡng nhằm giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả tiền vay và lãi đúng hạn.
- Tín dụng nông thôn còn góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao cuộc sống tinh thần, vật chất cho người dân. Thị trường tín dụng chính thức hoạt động tốt sẽ góp phần hạn chế nạn cho vay nặng lãi, làm lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng 8 ở nông thôn. Nguyên tắc vay của tín dụng chính thức là đòi hỏi người dân phải sử dụng vốn đúng mục đích. Như vậy đồng vốn đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhà nước thông qua thị trường tín dụng nông thôn, sử dụng các công cụ để thực thi các chính sách điều tiết vĩ mô nâng đỡ, hỗ trợ thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển làm cho đời sống người dân được cải thiện và nâng cao hơn đồng thời thu hẹp sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Tiếp cận tín dụng a, Khái niệm tiếp cận tín dụng Khả năng tiếp cận tín dụng: Khả năng tiếp cận tín dụng là xác suất mà người vay có khả năng nhận được hoặc không nhận được các khoản vay tín dụng. Tiếp cận tín dụng có nghĩa là mức độ tín dụng mà người vay có thể nhận được.