Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Nghiên cứu sử thi 'Đẻ đất đẻ nước' của dân tộc Mường Việt Nam" (越南芒族史诗《生土生水》研究) là luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ và Văn học Á-Phi, hướng nghiên cứu So sánh Văn học và Văn hóa Trung Quốc - Đông Nam Á, do nghiên cứu sinh Nguyễn Bằng An (阮朋安) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Lữ Thụy Vinh (吕瑞荣) tại Học viện Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Nam Á thuộc Đại học Dân tộc Quảng Tây, Trung Quốc (广西民族大学, mã trường 10608, mã số học viên L2015050214). Luận án được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 4 năm 2019 và hoàn thành bảo vệ vào năm 2019.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí đặc biệt của sử thi "Đẻ đất đẻ nước" (Te tấc te đác) trong kho tàng văn hóa dân gian của người Mường – một dân tộc có chung nguồn gốc Lạc Việt và cội nguồn văn hóa Đông Sơn với người Kinh. Tác phẩm được xem như pho bách khoa toàn thư dân gian phản ánh lịch sử hình thành vũ trụ, con người, phương thức lao động sản xuất và triết lý nhân sinh của người Mường cổ. Tuy nhiên, do đặc thù không có chữ viết riêng, sử thi chủ yếu được truyền miệng qua tầng lớp thầy Mo (芒巫) trong nghi lễ tang ma. Trong bối cảnh hiện đại hóa, thời gian tổ chức tang lễ bị rút ngắn, số lượng thầy Mo am hiểu diễn xướng ngày càng suy giảm và già yếu, khiến di sản này đứng trước nguy cơ mai một.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây tại Việt Nam và quốc tế chủ yếu tiếp cận tác phẩm dưới góc độ văn bản học dân gian, dân tộc học thuần túy hoặc sưu tầm, biên dịch mà chưa có công trình nào khảo cứu một cách hệ thống, toàn diện tác phẩm dưới góc nhìn của lý thuyết phê bình sinh thái văn học và mỹ học sinh thái.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm:
- Khảo cứu điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, nguồn gốc lịch sử, hình thái xã hội và diện mạo văn hóa tổng thể của dân tộc Mường.
- Phân tích hệ thống tín ngưỡng Mo Mường, vai trò của thầy Mo và quá trình hình thành, nội dung, văn bản của sử thi "Đẻ đất đẻ nước".
- Phân tích không gian, quy trình và phương thức diễn xướng sử thi trong nghi lễ tang ma truyền thống.
- Đánh giá các thành tựu nghệ thuật về cấu tứ, tu từ, ngôn ngữ và làm rõ đặc chất thẩm mỹ sinh thái (sự hài hòa giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người và giữa con người với thần linh).
- Đánh giá vị thế, tầm ảnh hưởng của sử thi đối với văn học - văn hóa Mường và văn học Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn, truyền thừa trong kỷ nguyên số.
Đối tượng nghiên cứu là sử thi "Đẻ đất đẻ nước" của người Mường cùng các yếu tố sinh thái tự nhiên, sinh thái văn hóa và môi trường diễn xướng liên quan. Phạm vi không gian tập trung vào các vùng cư trú cốt lõi của người Mường tại Việt Nam, trọng tâm là bốn vùng Mường cổ lớn của tỉnh Hòa Bình gồm Mường Bi (huyện Tân Lạc), Mường Vang (huyện Lạc Sơn), Mường Thàng (huyện Cao Phong), Mường Động (huyện Kim Bôi) và các địa bàn Mường thuộc tỉnh Thanh Hóa (như Mường Ống huyện Bá Thước, Đồi Chu huyện Cẩm Thủy, Thạch Thành, Ngọc Lặc). Phạm vi thời gian bao quát từ tư liệu lịch sử, khảo cổ học thời tiền - sơ sử đến các số liệu thống kê hiện đại (1989, 1999, 2009) và khảo sát thực địa giai đoạn 2015–2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến người Mường và sử thi "Đẻ đất đẻ nước" theo ba nhóm nguồn chính:
Nhóm công trình học thuật tại Việt Nam:
- Về địa lý, xã hội và kinh tế nông nghiệp: Bùi Huy Đáp (1999) với Một số vấn đề về lúa nước xác định Hòa Bình là một trong những cái nôi của văn minh lúa nước; Trần Ngọc Bình (2013) khảo sát phong tục trong Đời sống văn hóa các dân tộc Việt Nam; Nguyễn Khắc Tụng (2015) nghiên cứu cấu trúc nhà sàn trong Nhà ở truyền thống các dân tộc Việt Nam; Bùi Huy Vọng công bố các công trình về Dệt truyền thống của người Mường (2015), Kinh nghiệm dẫn nước vào ruộng và lịch Rùa cổ của người Mường (2011), Trò chơi và đồ chơi dân gian của người Mường (2014); Lưu Huy Châm (2005) nghiên cứu biến đổi nhà sàn Mường; Bùi Chỉ (2013), Đinh Văn Ân (2015), Đặng Hoàng Hà (2005) khảo sát văn hóa ẩm thực và khẩu vị của người Mường Hòa Bình.
- Về dân tộc học và quan hệ cội nguồn Việt - Mường: Trần Từ / Nguyễn Từ Chi (1996) với tác phẩm Người Mường ở Hòa Bình (chuyên khảo về thiết chế ruộng đất Lang đạo và 40 mẫu hoa văn cạp váy Mường); Bùi Tuyết Mai, Vũ Đức Tân (1996), Vũ Khánh, Nguyễn Xuân Hồng (2008) với Người Mường ở Việt Nam; Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Ngọc Thanh (2003) khảo sát người Mường ở Tân Lạc; Tạ Đức (2013) nghiên cứu Nguồn gốc người Việt, người Mường; Nguyễn Văn Tài (2005), Trần Trí Dõi (2011) nghiên cứu lịch sử ngữ âm và so sánh ngôn ngữ Việt - Mường; Bùi Thiết (2015) khảo cứu tên gọi 54 dân tộc.
- Về văn hóa dân gian, Mo Mường và sử thi: Phan Đăng Nhật (2013) với Sử thi Mường; Kiều Trung Sơn với Cồng chiêng Mường (2012) và Nghệ thuật diễn xướng Mo Mường (2016); Mai Thị Hồng Hải (2004) nghiên cứu dân ca Rang; Đặng Văn Lung, Bùi Thiện, Bùi Văn Nợi (1996) nghiên cứu Mo Mường (Mo Mường và nghi lễ tang ma); Bùi Thị Kim Phúc (2003) khảo sát nghi lễ Mo; Vương Anh, Bùi Nhị Lê, Phạm Tố Châu (1997) xuất bản Mo Mường (Sử thi và thần thoại); Bùi Văn Thành khảo sát cấu trúc Mo Mường; Nguyễn Thị Song Hà nghiên cứu nghi lễ chu kỳ đời người; Trương Sĩ Hùng (1992) với luận án tiến sĩ Sử thi thần thoại Mường; các công trình sưu tầm của Quách Giao, Văn Quỳnh, Thanh Sơn (1965), Bùi Thiện (2003), Đinh Văn Phùng, Đinh Văn Ân (2015), Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa (1986), Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân...
Nhóm công trình học thuật của Pháp:
- Pierre Grossin (1926) với Tỉnh Mường Hòa Bình (La province muong de Hoa-Binh, Lê Gia Hội dịch năm 1994) và Jeanne Cuisinier (1948/1951) với chuyên khảo Người Mường: Địa lý nhân văn và xã hội học (Les Mu'o'ng: Géographie humaine et sociologie, Sở Văn hóa Thông tin Hòa Bình dịch năm 1995). Tác giả đánh giá cao giá trị dân tộc chí của Jeanne Cuisinier nhưng chỉ ra hạn chế của học giả Pháp khi chưa làm rõ mối quan hệ đồng nguyên Việt - Mường và để trống vị trí của sử thi "Đẻ đất đẻ nước" cùng giá trị nghi lễ Mo Mường.
Nhóm công trình học thuật tại Trung Quốc:
- Khổng Diên khảo sát thành phần dân tộc Việt Nam; Vương Văn Quang phân tích quan hệ cội nguồn Bách Việt và quá trình phân hóa Kinh - Mường; Dương Nhiên giới thiệu văn hóa các dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam; Viên Sĩ Luân (1988) công bố bài viết tổng quan Người Mường ở Việt Nam. Tác giả nhận xét các tài liệu tiếng Trung hiện có dung lượng ngắn, chủ yếu dừng lại ở mức giới thiệu khái quát dữ kiện, thiếu phân tích chuyên sâu về nội hàm văn hóa và giá trị tác phẩm.
Vị trí của luận án được xác lập bằng việc khắc phục tính phân tán của các tài liệu đi trước, liên kết nghiên cứu văn bản văn học với bối cảnh sinh thái học và nghi lễ diễn xướng, xây dựng một công trình chuyên khảo hoàn chỉnh bằng tiếng Trung về sử thi Mường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết đa ngành gồm:
- Lý thuyết Phê bình sinh thái văn học (生态文学批评) và Mỹ học sinh thái (生态美学 / 审美生态学): Dựa trên các luận điểm của Tăng Phồn Nhân (曾繁仁), Viên Đỉnh Sinh (袁鼎生), Lỗ Xu Nguyên (鲁枢元), Hoàng Bỉnh Sinh (黄秉生), Lữ Thụy Vinh (吕瑞荣). Luận án sử dụng khái niệm "trường thẩm mỹ sinh thái" (生态审美场), xác định bản chất của cái đẹp sinh thái là sự hiện thực hóa tự do tương ứng tiềm năng sinh mệnh của chủ thể và khách thể. Luận án ứng dụng khung ba mô thức phát triển thẩm mỹ sinh thái dân tộc: Y sinh (依生 - nương tựa vào tự nhiên và thần linh), Cạnh sinh (竟生 - đấu tranh, chinh phục qua các giai đoạn ảo tưởng, quá độ, dâng cao, mê mờ) và Cộng sinh (共生 - hài hòa, chung sống hòa bình giữa con người với tự nhiên và giữa các cộng đồng).
- Lý thuyết Dân tộc học (民族学), Dân gian học (民俗学) và Nhân học văn hóa: Khảo sát mối liên hệ hữu cơ giữa thiết chế xã hội, môi trường sống và sáng tạo văn hóa phi vật thể.
Phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khảo cứu các thư tịch cổ Hán Nôm (Việt sử lược, Việt điện u linh tập, Đại Việt sử ký toàn thư, Kiến văn tiểu lục, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí) và các công trình nghiên cứu hiện đại của Việt Nam, Trung Quốc, Pháp.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Tiến hành khảo sát thực địa tại các làng bản Mường ở tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa; phỏng vấn sâu các nghệ nhân dân gian, người am hiểu phong tục (như nghệ nhân làm mối Bùi Văn Viện tại Tân Lạc, nghệ nhân Quách Thị Lan tại Lạc Sơn, nhà nghiên cứu Bùi Huy Vọng) và các thầy Mo trực tiếp thực hành nghi lễ.
- Phương pháp phân tích định tính: Phân tích cấu trúc văn bản, thi pháp thể loại, các biện pháp tu từ học, nghệ thuật ngôn từ và ngữ cảnh văn hóa - nghi lễ.
- Phương pháp dịch thuật và đối chiếu Việt - Hán: Xử lý và chuyển ngữ các đoạn trích sử thi, thuật ngữ văn hóa dân gian Mường sang tiếng Trung học thuật.
Nguồn dữ liệu bao gồm các bản ghi âm, bản phiên âm chữ Mường bằng chữ Quốc ngữ, các bản dịch thơ sử thi đã xuất bản tại Việt Nam kết hợp với số liệu thống kê dân số chính thức của Tổng cục Thống kê Việt Nam qua các năm 1989, 1999 và 2009.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Dân tộc Mường và sinh cảnh
Chương này nghiên cứu nguồn gốc lịch sử, địa bàn cư trú, môi trường tự nhiên, phương thức kinh tế và cơ cấu xã hội truyền thống của người Mường:
- Nguồn gốc và phân bố: Người Mường và người Kinh cùng tách ra từ khối ngữ chi Việt - Mường thuộc ngữ tộc Môn - Khmer (ngữ hệ Nam Á), có chung cội nguồn văn hóa Đông Sơn thời cổ đại. Quá trình phân hóa diễn ra dần dần và hoàn tất độc lập vào khoảng thế kỷ 11 (thời nhà Lý). Địa bàn cư trú phân bố theo dải dài khoảng 350 km, rộng 90–100 km từ Yên Bái, qua Hòa Bình, Thanh Hóa đến Nghệ An. Số liệu biến động dân số được tổng hợp qua bảng sau:
| Năm điều tra | Tổng dân số người Mường (người) | Tỷ lệ tăng trưởng / Phân bố chủ yếu |
|---|---|---|
| 1989 | 914.396 | Tập trung chủ yếu tại Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ |
| 1999 | 1.137.515 | Hòa Bình: 479.197 (63,3% dân số tỉnh); Thanh Hóa: 328.744 (9,5%); Phú Thọ: 165.748 (8,2%); Ninh Bình: 46.539 |
| 2009 | 1.268.963 | Tăng hơn 10% so với năm 1999; chiếm 98% tập trung ở các tỉnh phía Bắc |
- Môi trường tự nhiên và phương thức mưu sinh: Vùng Mường đặc trưng bởi địa hình thung lũng karst xen kẽ đồi đất thấp, khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, hệ thống lưu vực sông Đà (sông Bờ) và sông Mã cung cấp nguồn nước tưới dồi dào. Người Mường kết hợp sản xuất ruộng nước ở thung lũng với làm nương rẫy, săn bắn, hái lượm và đánh bắt cá suối. Tác giả giới thiệu bảng Nông lịch cổ truyền của người Mường (Lịch Rùa / Lịch Đoi) gồm 12 tháng, bắt đầu từ tháng Giêng (tương ứng tháng 11 Dương lịch / tháng 10 Âm lịch của người Kinh) để chỉ đạo lịch thời vụ canh tác lúa, ngô, bông, sắn.
- Hình thái xã hội: Xã hội Mường cổ truyền vận hành theo thiết chế Lang đạo (官郎制度) mang tính đẳng cấp thế tập, đất đai thuộc quyền chiếm hữu tối cao của Lang, nông dân lĩnh canh phải nộp tô và thực hiện nghĩa vụ lao dịch. Đơn vị cư trú cơ bản là bản mường với tính tự quản cộng đồng cao. Quan hệ gia đình duy trì chế độ phụ hệ, quyền thừa kế thuộc về con trưởng (trưởng tử chi quyền), phong tục hôn nhân gìn giữ nhiều nghi thức cổ như tục thách cưới, vai trò của ông mai (媒人), đón dâu và tục lại mặt.
Chương 2: Khái quát văn hóa Mường
Chương 2 phân tích diện mạo văn hóa Mường trên hai bình diện vật chất và tinh thần:
- Văn hóa vật chất: Đặc trưng qua thành ngữ dân gian "Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui" (蒸饭、阁楼、掮水、烧猪). Ẩm thực chuộng gạo nếp đồ chín bằng chõ gỗ, ăn nguội chấm muối vừng, dùng lá chuối bày thức ăn, uống rượu cần (缸酒/杆酒). Trang phục nữ gồm áo ngắn (pắn), váy đen dài với điểm nhấn là cạp váy dệt thổ cẩm tinh xảo chứa gần 40 mẫu hoa văn hình học, động vật (rồng, hươu) kế thừa mô-típ trống đồng Đông Sơn, kết hợp khăn đội đầu màu trắng. Kiến trúc nhà sàn gỗ có cấu trúc phỏng theo hình dáng rùa vàng (quy hình), sàn lát bương dát tre, cầu thang số bậc lẻ (3, 5, 7, 9), bố trí hệ thống cửa sổ (voóng) mang chức năng nghi lễ tâm linh riêng biệt (như voóng toong, voóng khựa, voóng lèo).
- Văn hóa tinh thần và tín ngưỡng: Kho tàng văn học dân gian phong phú gồm các truyện thơ trữ tình - thế sự (Út Lót Hồ Liêu, Nàng Nga Hai Mối, Nàng Ờm Chàng Bồng Hương, Con Côi), các làn điệu dân ca (Thường đang, Bọ mẹng, Hát đúm). Nghệ thuật cồng chiêng giữ vị trí trung tâm với dàn chiêng 12 chiếc chia làm ba bộ (dàm, bồng, tlé) đại diện cho 12 tháng trong năm, sử dụng trong 24 dịp lễ tiết (như lễ Khai hạ). Hệ thống tín ngưỡng hình thành quan niệm vũ trụ ba tầng bốn thế giới (Mường Trời, Mường Đất, Mường Dưới/Mường Nước và Mường Đâm Đùn), bái vật giáo và thờ cúng tổ tiên. Văn hóa Mường thể hiện tính tự trị, năng lực sáng tạo bản địa và hệ thống kiêng kỵ nghiêm ngặt.
Chương 3: Tín ngưỡng và giá trị của Mo Mường
Chương này đi sâu khảo sát hiện tượng Mo Mường (芒巫) – trung tâm thực hành tâm linh của người Mường:
- Thầy Mo và quá trình đào tạo: Thầy Mo là trí thức dân gian, người nắm giữ kho tri thức truyền miệng, giữ vai trò trung gian kết nối giữa con người với thế giới thần linh và tổ tiên. Con đường trở thành thầy Mo đòi hỏi sự kế thừa dòng tộc hoặc căn cốt, trải qua quá trình học tập nghiêm cẩn nhiều năm để ghi nhớ hàng vạn câu Mo.
- Hệ thống nghi lễ Mo: Nghi lễ Mo xuất hiện trong các biến cố đời sống như cầu an, trừ tà, chữa bệnh, chúc phúc nhà mới, nhưng quy mô nhất là trong tang lễ. Thầy Mo sử dụng các pháp khí (túi Mo - khót, chuông, quạt) và thực hiện quy trình xướng đọc trường thiên để dẫn đường cho linh hồn người chết vượt qua các chặng đường về thế giới bên kia.
- Giá trị và hiện trạng: Mo Mường giữ vai trò duy trì trật tự xã hội, cố kết cộng đồng và an ủi tâm lý con người trước sự chia ly sinh tử. Luận án khảo sát hiện trạng đời sống của thầy Mo trong xã hội hiện đại, phân tích những chuyển biến trong nhận thức xã hội và sự thích ứng của nghệ nhân nhằm gìn giữ di sản trước sức ép của đô thị hóa.
Chương 4: Sử thi Mường "Đẻ đất đẻ nước"
Chương 4 khảo cứu tác phẩm sử thi dưới giác độ văn bản học và lịch sử hình thành:
- Nguồn gốc và định hình: "Đẻ đất đẻ nước" hình thành từ thời kỳ thị tộc - bộ lạc nguyên thủy, trải qua hàng nghìn năm bồi đắp bởi tư duy thần thoại hóa hiện thực của người Việt - Mường cổ. Tác phẩm phản ánh quá trình khai thiên lập địa, sự sinh sôi của vạn vật, các biến cố thiên tai (lụt lội, hạn hán), sự xuất hiện của lửa, đồ đồng, quá trình lập bản dựng mường và các cuộc xung đột xã hội nguyên thủy.
- Hình thức và nội dung: Tác phẩm được kết cấu thành nhiều khúc ca (roong Mo) liên kết liên hoàn bằng thể thơ dân gian ngắn gọn, nhịp điệu linh hoạt. Nội dung vừa mang tính hoang đường kỳ ảo vừa đậm đặc chi tiết hiện thực đời sống lao động. Chủ đề tác phẩm ngợi ca sức mạnh con người trong cuộc đấu tranh sinh tồn, chinh phục thiên nhiên và kiến tạo trật tự xã hội.
- Sưu tầm và dị bản: Luận án tổng thuật lịch sử sưu tầm văn bản từ thời thuộc Pháp đến các giai đoạn nghiên cứu tại Việt Nam dân chủ cộng hòa và hiện đại. Phân tích, so sánh các bản in tiêu biểu của Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân; bản của Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian; bản của Ty Văn hóa Thông tin Thanh Hóa và tư liệu điền dã tại Hòa Bình. Tác giả chỉ ra các dị bản có cốt truyện và hệ thống nhân vật cơ bản thống nhất, sự khác biệt chủ yếu nằm ở phương ngữ địa phương và dung lượng các đoạn mo dẫn đường.
Chương 5: Sự thể hiện của sử thi Mường "Đẻ đất đẻ nước"
Chương 5 phân tích không gian và phương thức diễn xướng sống động của tác phẩm:
- Bối cảnh tang ma: Tang ma Mường là môi trường diễn xướng nguyên hợp và duy nhất của trọn vẹn thiên sử thi. Luận án mô tả chi tiết các nghi thức chuẩn bị, các bước khâm liệm, tế lễ, hệ thống bài tang ca dẫn dắt qua nhiều ngày đêm.
- Quy trình diễn xướng Mo: Thầy Mo ngồi bên quan tài, vừa tụng niệm vừa kể chuyện bằng giọng điệu trang nghiêm, biến đổi sắc thái theo từng tình tiết sử thi. Về hình thức, việc diễn xướng là để kể chuyện, chỉ đường và an ủi linh hồn người chết (khuây khỏa vong hồn); nhưng về bản chất xã hội, đây là cuộc đối thoại hướng tới người sống (khuyên răn, giáo dục nhân sinh), giúp người còn sống hiểu rõ lịch sử tộc người, nguồn cội gốc gác, từ đó vượt qua đau thương mất mát để tiếp tục sinh tồn và lao động.
Chương 6: Thành tựu nghệ thuật của sử thi Mường "Đẻ đất đẻ nước"
Chương 6 phân tích thi pháp nghệ thuật của tác phẩm trên ba phương diện:
- Đặc sắc cấu tứ: Kết hợp hài hòa giữa tính tự sự (叙事性 - cốt truyện mạch lạc, xâu chuỗi sự kiện theo dòng thời gian biên niên vũ trụ), tính truyền kỳ (传奇性 - chi tiết hoang đường, sự can thiệp của thần thú, cây chu đồng, chim 浸 - chim Ớt đẻ trứng sinh ra muôn loài) và tính hoành tráng, khoáng đạt (宏阔性 - không gian vũ trụ vô biên từ cõi trời đến cõi đất).
- Thủ pháp tu từ: Sử dụng phổ biến biện pháp nhân hóa (拟人 - gán thuộc tính người cho muôn thú, cây cỏ, đá, đất), tương phản đối lập (对比 - giữa ánh sáng và bóng tối, giữa trật tự và hỗn độn, giữa thiện và ác) và khoa trương, phóng đại (夸张 - miêu tả sức mạnh khổng lồ của các anh hùng lập mường, tầm vóc kỳ vĩ của cây đồng).
- Đặc điểm ngôn ngữ: Hệ thống ngôn từ thuần Mường giàu hình tượng, sử dụng triệt để nghệ thuật điệp vần (叠韵), từ láy/trùng ngôn (重言) mô phỏng âm thanh tự nhiên và cảm giác, cùng thủ pháp điệp ngữ, điệp cú (重复) tạo âm hưởng trầm hùng, tha thiết, phù hợp với không khí nghi lễ ngâm xướng kéo dài.
Chương 7: Đặc chất hài hòa mỹ cảm của sử thi Mường "Đẻ đất đẻ nước"
Chương này là phần trọng tâm ứng dụng mỹ học sinh thái để làm sáng tỏ các tầng bậc giá trị thẩm mỹ:
- Vẻ đẹp hài hòa tự nhiên (绚丽多彩的自然和谐之美): Sử dụng hệ thống ngôn từ mộc mạc và hình ảnh tu từ để ngợi ca cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ, núi rừng, dòng suối, đất đai; phản ánh tâm thức hòa nhập, gắn bó hữu cơ và tôn trọng môi sinh của người Mường cổ.
- Vẻ đẹp hòa mục nhân luân (朴质醇厚的人际和睦之美): Thể hiện tinh thần cộng cảm, tương trợ, bình đẳng trong lao động và sinh hoạt cộng đồng nguyên thủy; làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa cá nhân và buôn bản, tinh thần chia sẻ sản phẩm săn bắt và canh tác.
- Vẻ đẹp hòa hợp người - thần (浪漫奇特的人神和融之美): Trong tư duy sử thi Mường, ranh giới giữa người và thần linh không tuyệt đối ngăn cách mà có sự chuyển hóa, hoán đổi địa vị. Thần linh gần gũi, hỗ trợ con người dựng nhà, tìm lửa; con người thông qua sức lao động kiên cường và lòng dũng cảm đã khẳng định vị thế chủ thể của mình trong vũ trụ.
Chương 8: Vị thế và sự truyền thừa của sử thi Mường "Đẻ đất đẻ nước"
Chương 8 tổng kết vị thế lịch sử và định hướng bảo tồn tác phẩm:
- Tầm ảnh hưởng trong nội bộ dân tộc Mường: Tác phẩm là mẫu gốc văn hóa chi phối phong tục, chuẩn mực đạo đức, phong cách ứng xử và là nguồn cảm hứng trực tiếp cho các thể loại văn học dân gian cũng như đội ngũ sáng tác văn học viết Mường hiện đại.
- Vị thế trong nền văn học Việt Nam: Được khẳng định là kiệt tác sử thi thần thoại đồ sộ hàng đầu trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, đóng góp diện mạo độc đáo cho nền văn học nước nhà và thu hút sự quan tâm sâu sắc của giới lý luận phê bình văn nghệ.
- Phương thức truyền thừa và lan tỏa: Đánh giá ba kênh bảo tồn gồm truyền khẩu dân gian truyền thống thông qua thế hệ thầy Mo kế cận; chuẩn hóa và xuất bản các văn bản phiên âm, dịch thuật; quảng bá, tái hiện giá trị tác phẩm thông qua điện ảnh, truyền hình và không gian mạng đa phương tiện.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
- Về mặt lý luận: Luận án là công trình học thuật đầu tiên vận dụng một cách hệ thống lý thuyết phê bình sinh thái văn học và mỹ học sinh thái để giải mã toàn diện một sử thi dân tộc thiểu số Việt Nam ("Đẻ đất đẻ nước"). Nghiên cứu đã làm sáng tỏ cấu trúc vận động thẩm mỹ của tác phẩm qua các mô thức y sinh, cạnh sinh và cộng sinh, mở ra hướng tiếp cận liên ngành mới giữa sinh thái học, nhân học và thi pháp học dân gian.
- Về mặt thực tiễn: Công trình cung cấp một hệ thống tư liệu chuyên khảo toàn diện, chuẩn xác và sâu sắc bằng chữ Hán về dân tộc Mường, nghi lễ Mo Mường và sử thi "Đẻ đất đẻ nước". Đây là nguồn tư liệu có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu so sánh văn hóa, văn học giữa các tộc người ngữ hệ Nam Á và Bách Việt tại Đông Nam Á và Nam Trung Quốc.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn: Luận án đưa ra các kiến nghị thực tiễn về việc kết hợp bảo tồn không gian diễn xướng tang lễ truyền thống với chính sách đãi ngộ, vinh danh nghệ nhân thầy Mo; thúc đẩy công tác số hóa di sản, xuất bản các bản dịch chuẩn mực và tích hợp giáo dục di sản vào trường học cũng như các phương tiện truyền thông hiện đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn về địa bàn và tư liệu tiếp cận, luận án tập trung khảo cứu sâu tại các trung tâm Mường lớn ở Hòa Bình và Thanh Hóa, chưa thể bao quát toàn bộ các biến thể sử thi tại các vùng Mường di cư hoặc vùng đệm xa hơn ở Tây Nguyên và Nam Bộ. Đồng thời, nguồn tài liệu học thuật tiếng Trung nghiên cứu trực tiếp về văn hóa Mường trước đó còn rất khan hiếm, gây khó khăn nhất định trong việc đối chiếu thuật ngữ.
Hướng nghiên cứu phát triển tiếp theo được gợi mở là: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu thi pháp, vũ trụ quan và mô thức sinh thái của sử thi "Đẻ đất đẻ nước" với hệ thống thần thoại, sử thi của các dân tộc có mối liên hệ cội nguồn Bách Việt và các dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Nam Trung Quốc (như người Choang, Đồng, Miêu, Dao, Thái).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao đối với:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Ngôn ngữ và Văn học Á-Phi, Văn học dân gian, Dân tộc học, Văn hóa học và Đông Nam Á học: Cung cấp khung lý thuyết mỹ học sinh thái ứng dụng và nguồn dẫn liệu điền dã phong phú.
- Các nhà nghiên cứu so sánh văn hóa Việt Nam - Trung Quốc: Cung cấp góc nhìn đối sánh về cội nguồn văn hóa Đông Sơn và khối cư dân Bách Việt cổ.
- Cơ quan quản lý văn hóa và các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và quốc tế (UNESCO) cho di sản Mo Mường và sử thi "Đẻ đất đẻ nước".
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng câu thành ngữ dân gian nào để khái quát đặc trưng văn hóa vật chất của người Mường?
Luận án dẫn câu thành ngữ cổ: "Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui" (Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui / 蒸饭、阁楼、掮水、烧猪) để phân tích toàn diện 4 yếu tố vật chất đặc trưng gồm: tập quán ăn cơm nếp đồ chín bằng chõ, ở nhà sàn gỗ cao, gùi vác nước từ suối về sinh hoạt và thui vàng da lợn trước khi chế biến món ăn trong lễ tiết.
2. Theo phân tích của luận án, sử thi "Đẻ đất đẻ nước" được diễn xướng trong bối cảnh nào và mang mục đích thực chất gì?
Sử thi được diễn xướng độc quyền trong không gian nghi lễ tang ma nhiều ngày đêm của người Mường do thầy Mo thực hiện bên quan tài. Về mặt hình thức, diễn xướng nhằm kể chuyện, chỉ dẫn và an ủi linh hồn người quá cố; nhưng về thực chất xã hội, đây là nghi thức hướng về người sống, giúp cộng đồng thấu hiểu nguồn cội, củng cố ý chí sinh tồn và gắn kết tình làng nghĩa bản sau biến cố ly biệt.
3. Hoa văn trên cạp váy phụ nữ Mường có nguồn gốc từ đâu và bao gồm bao nhiêu mẫu hoa văn?
Theo kết quả nghiên cứu dân tộc học được luận án trích dẫn (đặc biệt từ công trình của Trần Từ / Nguyễn Từ Chi), cạp váy phụ nữ Mường lưu giữ gần 40 mẫu hoa văn dệt thổ cẩm tinh xảo (như hình rồng, hươu, hoa lá, hình học), là sự kế thừa trực tiếp và bảo lưu sống động các mô-típ nghệ thuật trang trí từ mặt trống đồng Đông Sơn thời cổ đại.
4. Dàn cồng chiêng của người Mường có kết cấu và chức năng như thế nào trong đời sống văn hóa?
Một bộ cồng chiêng Mường tiêu chuẩn gồm 12 chiếc, được chia thành ba bộ nhỏ là dàm, bồng và tlé, tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Cồng chiêng được người Mường coi là báu vật truyền đời, mang linh hồn và được sử dụng trong 24 dịp lễ hội cộng đồng lớn nhỏ, tiêu biểu như nghi lễ trừ tịch đón tổ tiên đêm Giao thừa hay ngày hội Khai hạ đầu năm.
5. Luận án vận dụng mô thức mỹ học sinh thái nào để phân tích tiến trình văn hóa và sử thi Mường?
Luận án ứng dụng mô hình ba giai đoạn thẩm mỹ sinh thái dân tộc gồm: Y sinh (依生 - con người nương tựa vào sự bao bọc của thiên nhiên và thần linh), Cạnh sinh (竟生 - con người đấu tranh, săn bắt, chế ngự thiên tai và xung đột xã hội để phát triển sản xuất) và Cộng sinh (共生 - đích đến cuối cùng là sự hòa hợp bền vững giữa con người với tự nhiên, hòa mục trong quan hệ xã hội và hòa dung giữa người với thế giới tâm linh).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Bằng An là một công trình nghiên cứu công phu, hệ thống về sử thi "Đẻ đất đẻ nước" và văn hóa dân tộc Mường dưới lăng kính phê bình sinh thái văn học và mỹ học sinh thái. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khảo cứu văn bản thư tịch, phân tích thi pháp học và tư liệu điền dã dân tộc học thực tế, tác giả đã làm sáng tỏ các giá trị lịch sử, nhân văn, nghệ thuật diễn xướng và đặc chất thẩm mỹ hòa hợp của tác phẩm. Công trình không chỉ khẳng định vị thế kiệt tác của sử thi Mường trong nền văn học Việt Nam mà còn đóng góp một tài liệu học thuật giá trị bằng tiếng Trung cho lĩnh vực nghiên cứu so sánh văn hóa - văn học khu vực Đông Nam Á và Đông Á.