Tổng quan luận án

Tổ chức bản đóng vai trò hạt nhân trong đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của các tộc người thiểu số tại vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam. Trải qua các tiến trình lịch sử, đặc biệt là các biến động xã hội trong thế kỷ XX và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng chương trình xây dựng nông thôn mới trong thế kỷ XXI, tổ chức bản đã và đang chứng kiến nhiều chuyển dịch về quy mô, cấu trúc, tên gọi cũng như các mối quan hệ xã hội.

Tại tỉnh Thái Nguyên, người Nùng Phàn Slình là một nhóm địa phương có nguồn gốc thiên di từ Lạng Sơn xuống định cư qua nhiều thế hệ. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về nhà cửa, trang phục, tín ngưỡng hay tang ma của tộc người Nùng, song vấn đề tổ chức bản của nhóm Nùng Phàn Slình tại địa bàn huyện Đồng Hỷ vẫn chưa có một công trình khoa học nào khảo sát và phân tích một cách chuyên sâu, toàn diện. Do đó, luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Từ nguồn tài liệu điền dã Dân tộc học - Nhân học, chỉ rõ đặc điểm và vai trò của bản người Nùng Phàn Slình truyền thống và biến đổi.
  2. Phân tích vai trò, vị trí của bản trong xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế của địa phương.
  3. Chỉ ra những yếu tố tác động đến sự biến đổi của tổ chức bản truyền thống của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước và trong nước về làng/bản; vận dụng một số lý thuyết và các khái niệm liên quan đến nội dung luận án.
  2. Chỉ rõ nguồn gốc tộc người, lịch sử cư trú của người Nùng Phàn Slình, những đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội và khái quát địa bàn nghiên cứu.
  3. Nghiên cứu hình thức cư trú, cấu trúc và các mối quan hệ xã hội của bản truyền thống và biến đổi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình, bao gồm các nội dung: đặc điểm cư trú, cấu trúc bản và các mối quan hệ xã hội truyền thống và biến đổi.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu sâu tại 4 xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên gồm: xã Hòa Bình, xã Tân Long, xã Văn Hán và xã Văn Lăng. Đây là những địa bàn có cộng đồng người Nùng Phàn Slình cư trú tập trung và định cư ổn định.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình từ trước năm 1945 và từ sau năm 1945 đến năm 2019. Mốc thời gian này gắn liền với các bước ngoặt quản lý hành chính của nhà nước: sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 (xóa bỏ hệ thống quản lý cũ, thiết lập hệ thống hành chính mới), thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao (1960 - 1986 với sự mờ nhạt của thiết chế bản), và giai đoạn Đổi mới từ sau năm 1986, đặc biệt từ năm 1995 đến năm 2019 khi tính tự quản và vai trò trưởng xóm/bản được tái xác lập trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

Vấn đề làng, bản đã thu hút sự chú ý của các học giả quốc tế từ thế kỷ XVII - XVIII qua các ghi chép về làng xã Việt Nam của S. Baron (Mô tả vương quốc Đàng ngoài), Richard (Lịch sử Đàng ngoài), và A. Rhodes.

Trong thế kỷ XX và giai đoạn gần đây, các nghiên cứu quốc tế về làng bản được tiếp cận từ nhiều góc độ:

  • Kiến trúc và địa lý cư trú: Katherine D. Blair với Four Villages: Architecture in Nepal (67 trang) giới thiệu về địa lý, khí hậu, hình thức định cư và sự đa dạng dân tộc.
  • Đời sống cộng đồng và cấu trúc định cư: Clarence J. Glacken trong Studies of Okinawan Village Life phân tích làng ở Okinawa qua ba loại hình cư trú: cư trú theo cụm, mật tập và cư trú rải rác, kết hợp khảo sát hệ thống gia đình, vòng đời, tôn giáo và hoạt động trợ cấp.
  • Tổ chức xã hội và kinh tế hộ: Lemoine Jacques (1973) với công trình Một làng Hmông Xanh ở Thượng Lào phân tích nóc nhà như một tế bào kinh tế, nghiên cứu sự phân hóa xã hội, tích lũy vốn và nợ nần qua đồng Kíp cùng vai trò của dòng họ.
  • Không gian xã hội: Georges Condominas (1997) trong Không gian xã hội vùng Đông Nam Á mô tả làng Sar Luk qua chu kỳ khép kín giữa sản xuất và tín ngưỡng, tiếp cận theo chiều cạnh không gian - thời gian.
  • Biến đổi kinh tế - xã hội và chính sách nhà nước: Mohinder Singh Randhawa với Developing village India: Studies in village problems khảo sát sự tác động tương hỗ giữa kinh tế và văn hóa trong phát triển làng xã; Christer Gunnarsson và Mason C. Hoadley trong The Village Concept in the Transformation of Rural Southeast Asia phân tích làng xã tại Indonesia, Malaysia và Thái Lan qua 4 phần: làng thời thuộc địa, nguyên nhân làm suy yếu làng, nghiên cứu các ngôi làng ở Thái Lan và tác động của chính sách nhà nước.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu về làng người Việt: Khởi đầu từ các tác phẩm của Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục), Ngô Tất Tố (Việc làng), Hoàng Đạo (Bùn lầy nước đọng), tiếp nối bởi các công trình chuyên khảo của Nguyễn Hồng Phong (Xã thôn Việt Nam), Viện Sử học (Nông thôn Việt Nam trong lịch sử năm 1977, 1978; Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại năm 1990, 1991), Trần Từ (Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ), Bùi Xuân Đính (Hương ước và quản lý làng xã, Hành trình về làng Việt cổ, Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai - truyền thống và biến đổi), Phan Đại Doãn (Làng Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, xã hội và văn hoá, Làng Việt Nam đa nguyên và chặt), Nguyễn Quang Ngọc (Một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVII – XIX, Một số vấn đề làng xã Việt Nam), Diệp Đình Hoa cùng nhóm tác giả (Làng Nguyễn: Tìm hiểu làng Việt).
  • Nghiên cứu về làng/bản dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc: Cầm Trọng và Nguyễn Ngọc Thanh (1993) đưa ra cách phân loại làng bản theo vùng địa lý cư dân và loại hình kinh tế - xã hội; Phương Bằng khảo sát điều kiện thành lập bản qua Báo cáo điền dã dân tộc học Bản Tày; Nguyễn Ngọc Thanh khảo sát thiết chế làng bản của người Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Hmông, Hà Nhì, Cao Lan; Hoàng Bé và Hoàng Minh Lợi nghiên cứu làng bản người Tày ở Bắc Kạn; Đỗ Thúy Bình nghiên cứu cấu trúc cư trú và gia đình Tày, Nùng, Thái; Trần Văn Quyền khảo sát làng bản người Tày ở Võ Nhai (Thái Nguyên); Triệu Quỳnh Châu nghiên cứu làng bản người Tày ở Trùng Khánh (Cao Bằng); Lý Hành Sơn công bố các nghiên cứu về biến đổi của thôn làng người Dao ở Ba Bể.
  • Nghiên cứu về dân tộc Nùng và nhóm Nùng Phàn Slình: Các công trình tổng quan của Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Hà Văn Thư, Viện Dân tộc học (Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam, 1992), Hoàng Hoa Toàn, Hoàng Nam (Dân tộc Nùng ở Việt Nam, 1992), Đàm Thị Uyên. Các nghiên cứu chuyên biệt về văn hóa vật chất và phi vật chất gồm: Hoàng Minh Lợi, Phan Đình Thuận (nhà ở người Nùng tại Đồng Hỷ), Lê Văn Bé (trang phục cổ truyền), Vương Xuân Tình và Nguyễn Ngọc Thanh (tập quán bảo vệ rừng và luật tục quản lý tài nguyên), Trần Văn Hà (tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp của người Tày, Nùng sau Khoán 10), Nguyễn Thị Yên (tín ngưỡng, người thầy cúng). Ở cấp độ địa phương và chuyên sâu về Nùng Phàn Slình có: Nguyễn Anh Tuấn (nghiên cứu vốn xã hội qua nghi lễ tang ma tại xã Tân Long, Đồng Hỷ), Nguyễn Thị Ngân (luận án tiến sĩ về tang ma người Nùng Phàn Slình tại Thái Nguyên, đề cập tổ chức hàng phường), Lê Minh Anh (luận án tiến sĩ về quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình tại Cao Lộc, Lạng Sơn).

Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Phần lớn các công trình trước đây tập trung mô tả bản truyền thống của các dân tộc Tày, Thái, Dao, Mường hoặc đi sâu vào từng thành tố văn hóa riêng lẻ (nhà cửa, trang phục, tang ma, tín ngưỡng) của người Nùng tại Cao Bằng, Lạng Sơn. Chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống, toàn diện về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình tại địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong tiến trình lịch sử và dưới tác động của chính sách xây dựng nông thôn mới hiện nay.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm

Luận án vận dụng hai lý thuyết nền tảng trong Nhân học và Dân tộc học:

  1. Lý thuyết Không gian xã hội (Social Space): Kế thừa quan điểm của Henri Lefebvre về không gian xã hội như một sản phẩm xã hội được cấu thành bởi quan hệ sản xuất và quan hệ xã hội qua ba chiều kích (hoạt động không gian, các thể hiện của không gian, và các không gian thể hiện); cùng luận điểm của Georges Condominas (1977) xác định không gian xã hội là tập hợp hệ thống quan hệ đặc trưng của một nhóm người, mang tính lịch sử, tính tộc người và gắn bó chặt chẽ với hệ sinh thái môi trường. Tác giả tiếp cận tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình như một không gian văn hóa - xã hội sinh tồn, định hình các mối quan hệ dòng họ, láng giềng, kinh tế và môi trường tự nhiên.
  2. Lý thuyết Biến đổi xã hội (Social Change): Tiếp cận từ quan điểm tiến hóa luận (L. Taylor), lý thuyết cấu trúc - chức năng của Max Gluckman (phân biệt biến đổi lặp lại trong hệ thống và biến đổi cách mạng của hệ thống), cùng quan điểm hiện đại của Thomas Barfield, Peter Dwyer và Monica Minnegal (nhìn nhận biến đổi như quá trình thích nghi hoặc chuyển đổi dưới tác động của các can thiệp có chủ đích từ bên ngoài). Luận án xem xét sự chuyển dịch của tổ chức bản Nùng Phàn Slình dưới tác động của chính sách nhà nước và công cuộc xây dựng nông thôn mới.

Hệ thống khái niệm công cụ được xác định chuẩn xác gồm: Bản, Tổ chức xã hội (Social organization), Tổ chức hội (Association - với 3 dạng: Nhóm, Mạng lưới, Loại), Truyền thống, Biến đổi xã hội (Social change), Sở hữu tập thể (theo Điều 208 Luật Dân sự 2005), Sở hữu cá nhân (Điều 211 Luật Dân sự 2005), Sở hữu đất đai (Điều 4 Luật Đất đai), Sự chiếm hữu đất đai (Land tenure - với 3 quyền: quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng, quyền quản trị), Sở hữu chung của cộng đồng, Hương ước/quy ước, Thiết chế tự quản, và Gia đình.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Dân tộc học:

  • Phương pháp điền dã Dân tộc học (chủ đạo):
    • Quan sát và quan sát tham dự: Trực tiếp khảo sát nguồn tài nguyên, nguồn nước, khu vực sản xuất, bãi chăn thả, nghĩa địa, rừng ma; tham gia các sinh hoạt văn hóa, lễ tết, hội hè, tang ma, cưới xin, họp bản, họp hàng phường tại địa bàn.
    • Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn sâu với các nhóm đối tượng: cán bộ cấp xã, già làng, trưởng bản, thầy cúng, nghệ nhân, cán bộ hưu trí và người dân địa phương. Nội dung phỏng vấn tập trung vào nguồn gốc thiên di, lịch sử dòng họ, quy ước bảo vệ rừng và nguồn nước, ranh giới bản, sở hữu ruộng đất và tác động của các dự án phát triển, chương trình nông thôn mới. Thời lượng mỗi cuộc phỏng vấn sâu khoảng 1 giờ.
    • Thảo luận nhóm: Tổ chức các buổi thảo luận nhóm (thời lượng khoảng 2 giờ/buổi, quy mô 6 - 8 người/nhóm) chia theo 4 nhóm đối tượng: nhóm nam giới; nhóm phụ nữ; nhóm hỗn hợp nam - nữ; nhóm cán bộ các cấp nhằm thu thập thông tin đa chiều về quản lý bản, quy ước và biến đổi thiết chế.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa bản truyền thống và bản biến đổi hiện đại; so sánh các nét tương đồng và khác biệt giữa người Nùng Phàn Slình với các nhóm Nùng khác (như Nùng Cháo) và người Tày trên cùng địa bàn.
  • Phương pháp biểu đồ: Sử dụng biểu đồ hình cột biểu thị tỷ lệ khác biệt và cơ cấu các dòng họ tại các điểm nghiên cứu.
  • Phương pháp thu thập, tổng hợp và khai thác tài liệu thứ cấp: Khai thác tư liệu thống kê, báo cáo hành chính tại UBND huyện Đồng Hỷ, UBND các xã nghiên cứu, Trung tâm Lưu trữ, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tỉnh ủy Thái Nguyên và Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên; kết hợp tham vấn chuyên gia Nhân học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và tộc người nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, xác lập hệ thống lý thuyết (Không gian xã hội, Biến đổi xã hội) và các khái niệm chuyên ngành. Đồng thời, chương 1 giới thiệu tổng quan về địa bàn huyện Đồng Hỷ và tộc người Nùng Phàn Slình:

  • Địa bàn huyện Đồng Hỷ: Diện tích tự nhiên 520 km², địa hình chuyển tiếp vùng núi cao Bắc Sơn xuống đồi bát úp và vùng ven sông Cầu (dài 47 km qua huyện). Cơ cấu đất đai gồm: đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất công cộng 3,2%, đất chưa sử dụng 25,7%. Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở tháng 7/2019, dân số huyện là 90.709 người, trong đó dân tộc Nùng có 17.178 người (chiếm 18,93%). Toàn tỉnh Thái Nguyên có 63.816 người Nùng (chiếm 5,7% dân số tỉnh).
  • Nguồn gốc và lịch sử thiên di của người Nùng Phàn Slình: Nguồn gốc xa xưa từ Vạn Thành Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), tên gọi "Phàn Slình" là chuyển âm của "Vạn Thành". Họ di cư sang Việt Nam khoảng 200 - 300 năm trước (10 - 15 đời), định cư tại các huyện Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc (tỉnh Lạng Sơn). Từ đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn 1920 - 1930 và kéo dài đến những năm 1970, người Nùng Phàn Slình di cư xuống Đồng Hỷ do thiếu ruộng nước, gia tăng dân số, mâu thuẫn nội tộc hoặc lánh nạn sau Khởi nghĩa Bắc Sơn (1940).
  • Đặc trưng kinh tế, văn hóa - xã hội: Kinh tế truyền thống dựa vào trồng trọt lúa nước, ngô, cây ăn quả, chè kết hợp chăn nuôi gia súc (trâu, dê), gia cầm và nghề phụ thủ công (mộc, ngói, gạch). Cư trú nhà sàn 4 mái lợp ngói. Hệ thống tín ngưỡng gồm: thờ cúng tổ tiên gia đình và dòng họ (Bàn thờ Bản Đàn / Pỏn Tàn chia 3 tầng), thờ Táo quân (Pẹc Chào / Mể Ngộ Tày), thờ Bà Mụ, tục thờ thần ngoài sàn (An Phủ Đại Vương Nùng Trí Cao và các Hồ lọc theo dòng họ). Các sinh hoạt lễ hội đặc trưng gồm Hội Lồng tồng (mùng 3 đến 15 tháng Giêng), Lễ hội Oóc pò (mùng 8 tháng Giêng tại bản Tân Đô), dân ca Sli, Cò lảu, trò chơi phắt xòi.

Bảng tổng hợp thông tin 4 xã điểm nghiên cứu tại huyện Đồng Hỷ

Xã nghiên cứu Diện tích tự nhiên Quy mô dân số / Dân tộc Nùng Cơ cấu kinh tế & Hiện trạng nông thôn mới
Xã Hòa Bình 12,46 km² 726 hộ (~2.900 người); 7 bản;
Dân tộc Nùng: 816 người (dân tộc Kinh chiếm 54%, thiểu số 46%)
Trồng lúa (228 ha), ngô (204 ha), chè (233 ha); trâu bò 250 con, lợn 5.999 con. Đạt chuẩn Nông thôn mới theo QĐ 2091/QĐ-UBND ngày 20/08/2015 (tiêu chí chất lượng còn thấp).
Xã Tân Long 141,14 km² 1.519 hộ (8 dân tộc);
Dân tộc Nùng đông nhất: 844 hộ / 3.092 người (47,43%) tại 5 bản: Ba Đình, Đồng Mẫu, Làng Mới, Đồng Luông, Đồng Mây
Nông nghiệp lúa nước, chè, cây ăn quả; tỷ lệ hộ nghèo trên 20%, là xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện.
Xã Văn Hán 65,46 km² 17 bản; trên 10.000 người (8 dân tộc);
Dân tộc Nùng: 3.496 người (36,5%); Kinh: 55,6%
Lúa 1.300 ha, ngô 180 ha; thế mạnh cây chè (815 ha chè kinh doanh, 5 làng nghề chè truyền thống, 5 trang trại). Đạt chuẩn Nông thôn mới theo QĐ 582/QĐ-UBND ngày 28/02/2019.
Xã Văn Lăng 63,03 km² 16 bản; 8 dân tộc sinh sống;
Dân tộc Nùng: 691 người (15,1%); Kinh: 32,3%; Hmông: 29,7%; Dao: 17,7%
Trên 98% hộ làm nông nghiệp; địa hình chia cắt khó khăn; chuyển đổi đất đồi thấp sang trồng rừng, trồng chè, chăn nuôi gà và dê.

Chương 2: Đặc điểm, cấu trúc bản của người Nùng Phàn Slình

Chương này tập trung làm rõ tiêu chí phân loại, nguyên tắc định danh, kỹ thuật thiết lập và cấu trúc không gian của bản:

  • Tiêu chí phân loại: Thuộc loại hình làng bản của cư dân nông nghiệp định canh, định cư thung lũng lòng chảo và chân đồi núi ở vùng Đông Bắc. Do đến lập cư muộn hơn người Tày, các bản Nùng Phàn Slình thường nằm ở các thung lũng sâu hơn dọc theo chân núi, ven khe suối.
  • Hệ thống định danh bản:
    • Theo địa hình và đất canh tác: Bải Bông (đám ruộng cấy được 280 cái mạ, nơi tổ chức lồng tồng), Đồng Mẫu (ruộng hội lồng tồng mùng 5 tháng Giêng), Nà Pùng (ruộng thụt canh tác bằng trâu quần), Nà Bưa (ruộng bùn nhão), Nà Lóc (ruộng có cọn nước), Tổng Luông (cánh đồng lớn), Đồng Sim, Đồng Ngô.
    • Theo động vật, thực vật: Cốc Chủ (gốc sấu), Cốc Ham (cây me), Cốc Lùng (gốc đa), Ao Bộp (cây bộp), Cốc Thị, Lảy Ỏi (bãi mía), Mạy Lẹ (cây nứa), Mạy Ổ (cây sậy), Nhả Slày (cỏ dại), Nà Nhàu (trầu không), Lùng Bon (cây mon), Ba Chiêu (cây ớt), Cốc Phường (cây khế), Cốc Mòi (cây mơ), Cốc Ngạt, Cốc Quéo, Mai Xanh, Đèo Trám, Cầu Mai (cầu ghép bằng cây mai), Voi Đằm, Vực Bẫm.
    • Theo cơ sở tín ngưỡng, quân sự, nguồn nước và nhân danh: Bản Động Đình (có ngôi đình giữa đồng), Tàng Be (nơi tập bắn quân sự thời Pháp), Kha Thắng Thắng (ruộng thẳng), Nước Lạnh, Khe Quân, Khe Mong, Làng Giếng, bản Đăm Đu và La Đùm (đặt theo tên cai lính thời Pháp thuộc).
  • Nguyên tắc lập bản và kỹ thuật xây dựng:
    • Tiêu chuẩn lập bản: Dựa lưng vào sườn núi, đồi cao để đón mạch nước ngầm; mặt hướng ra cánh đồng; gần nguồn nước tưới và bãi nương. Cụm cư dân đạt quy mô từ 7 nóc nhà đã được định danh thành một bản.
    • Nghi lễ lập bản và làm nhà: Trước khi rời bản cũ phải cúng hì cha tại bàn thờ tổ tiên; khi đến đất mới làm lễ cúng chỗ ở (tỉ dù) xin phép Thổ công, Thổ địa; làm lễ cúng đất (tỉ lườn / slau tỉ lườn) với lễ vật 3 con gà luộc, rượu, cơm, than cháy dở, đuốc và dao quắm để trừ tà ma.
    • Khai thác vật liệu làm nhà sàn: Lên rừng lấy gỗ vào tháng 11 - 12 âm lịch (thời tiết hanh khô chống mối mọt). Sử dụng gỗ nghiến, trai làm cột; gỗ sến, táu làm hoành, dui, mè; gỗ kháo, đinh làm khuôn cửa; gỗ da đen làm ván sàn.
    • Cấu trúc cụm bản vệ tinh: Điển hình như cụm bản Tân Đô (xã Hòa Bình) giữ vai trò trung tâm tín ngưỡng có Đình Tân Đô, bao quanh bởi các bản vệ tinh như bản Ấp, bản Nưa (mô hình khác biệt với trung tâm "chiềng" ở Tây Bắc vì không chi phối quyền lực toàn diện).
  • Ranh giới bản và liên bản: Ranh giới tự nhiên và quy ước truyền miệng dựa trên các cột mốc: cây cổ thụ, eo núi, mỏm đồi, dòng suối, bờ ruộng.

Chương 3: Các thiết chế và quan hệ xã hội trong bản

Khảo sát toàn diện hệ thống thiết chế nội tại và các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng:

  • Quan hệ thân tộc và dòng họ: Cấu trúc các dòng họ (Lăng, Lâm, Hoàng, Lý, Lường, Triệu, Vương...) cùng tụ cư, vai trò trưởng họ, việc duy trì gia phả, thờ cúng chung tại Bản Đàn và nghĩa địa dòng họ.
  • Thiết chế gia đình và hôn nhân: Cấu trúc gia đình phụ quyền truyền thống, phân công lao động theo giới và sự biến đổi của quy mô gia đình hạt nhân.
  • Tổ chức tự quản và tổ chức xã hội phi quan phương: Vai trò của tổ chức hàng phường trong việc tương trợ tang ma, cưới hỏi, làm nhà; vai trò của già làng, trưởng bản, thầy Mo, thầy Tào trong việc điều tiết quan hệ xã hội và thực hành nghi lễ.

Chương 4: Những yếu tố tác động, xu hướng biến đổi của bản và một số vấn đề đặt ra

Phân tích các tác nhân biến đổi và thực trạng chuyển dịch:

  • Các yếu tố tác động: Tác động của chính sách hành chính nhà nước qua các thời kỳ lịch sử (trước 1945, giai đoạn hợp tác hóa 1960 - 1986, giai đoạn Đổi mới từ sau 1986 đến 2019); tác động của cơ chế thị trường, cơ giới hóa nông nghiệp và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
  • Xu hướng biến đổi của tổ chức bản: Sự chuyển dịch từ bản truyền thống sang đơn vị hành chính "xóm"; sự biến đổi cấu trúc không gian cư trú (xuất hiện nhà xây, phân tán đất ở); sự suy giảm của các nghề thủ công truyền thống (dệt vải, đan lát); sự thay đổi trong thực hành nghi lễ vòng đời và quan hệ hàng xóm láng giềng.
  • Vấn đề đặt ra: Mâu thuẫn giữa yêu cầu hiện đại hóa hạ tầng nông thôn mới với việc bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người; vấn đề quản trị xã hội cơ sở và nâng cao đời sống kinh tế tại các vùng khó khăn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Phân tích và hệ thống hóa bản của người Nùng Phàn Slình như một loại hình thiết chế xã hội và không gian xã hội đặc thù ở vùng trung du miền núi phía Bắc trong tiến trình lịch sử từ truyền thống đến biến đổi.
  • Vận dụng thành công Lý thuyết Không gian xã hội và Lý thuyết Biến đổi xã hội vào việc giải mã cấu trúc cư trú, sự tương tác sinh thái nhân văn và sự chuyển dịch thiết chế bản của một nhóm địa phương thuộc tộc người thiểu số.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Trình bày bức tranh toàn diện, có hệ thống về đặc điểm cư trú, cấu trúc tổ chức và các mối quan hệ xã hội của bản người Nùng Phàn Slình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong bối cảnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.
  • Làm rõ vai trò, chức năng của tổ chức bản và mối quan hệ đan xen tộc người giữa người Nùng Phàn Slình với các dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn (Kinh, Tày, Dao, Hmông, Sán Chay...).
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu và luận cứ khoa học thực tiễn giúp các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới gắn liền với bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tích cực của tổ chức bản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát thực địa chuyên sâu tại 4 xã (Hòa Bình, Tân Long, Văn Hán, Văn Lăng) thuộc địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Do đó, các phát hiện chủ yếu phản ánh thực trạng của nhóm địa phương Nùng Phàn Slình tại khu vực này trong khung thời gian nghiên cứu đến năm 2019.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở Thái Nguyên với các địa bàn gốc tại Lạng Sơn (Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc), hoặc so sánh với tổ chức bản của các nhóm Nùng khác (Nùng An, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng Giang) trên địa bàn vùng Đông Bắc.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các ngành Dân tộc học, Nhân học, Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam và Xã hội học nông thôn; đặc biệt hữu ích ở phần phương pháp luận điền dã dân tộc học, khung phân tích không gian xã hội và nguồn tư liệu điền dã nguyên cấp về người Nùng Phàn Slình.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý: Cung cấp tư liệu thực chứng phục vụ công tác quản lý văn hóa cơ sở, xây dựng hương ước/quy ước thôn xóm, triển khai các tiêu chí nông thôn mới phù hợp với đặc thù thiết chế tự quản truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi.

Câu hỏi thường gặp

1. Người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ có nguồn gốc từ đâu và lịch sử thiên di diễn ra vào thời gian nào?

Người Nùng Phàn Slình có nguồn gốc xa xưa từ Vạn Thành Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), di cư sang Việt Nam khoảng 200 - 300 năm trước và cư trú tại các huyện Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc (tỉnh Lạng Sơn). Quá trình chuyển cư xuống huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, diễn ra dồn dập nhất vào giai đoạn 1920 - 1930 và kéo dài rải rác đến những năm 1970 do thiếu đất canh tác, dân số tăng, hoặc lánh nạn sau Khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940.

2. Tên bản của người Nùng Phàn Slình tại Đồng Hỷ được đặt dựa trên những nguyên tắc nào?

Tên bản được đặt theo ba nhóm chính: (1) Theo đặc điểm địa hình và đất canh tác (như Bải Bông, Đồng Mẫu, Nà Pùng, Nà Bưa, Tổng Luông); (2) Theo đặc điểm động vật, thực vật tự nhiên (như Cốc Chủ, Cốc Ham, Cốc Lùng, Lảy Ỏi, Mạy Lẹ, Cầu Mai, Voi Đằm); (3) Theo các yếu tố khác như cơ sở thờ tự (bản Động Đình), hoạt động quân sự (Tàng Be), đặc điểm nguồn nước (bản Nước Lạnh, Làng Giếng) hoặc tên cai lính thời Pháp thuộc (Đăm Đu, La Đùm).

3. Nghi thức tâm linh truyền thống nào được thực hiện khi người Nùng Phàn Slình dựng nhà lập bản mới?

Trước khi rời quê hương cũ, chủ gia đình cúng hì cha tại bàn thờ tổ tiên xin phép đi tìm đất mới. Đến nơi định cư mới, họ thực hiện nghi lễ cúng chỗ ở (tỉ dù) báo cáo Thổ công, Thổ địa và lễ cúng đất (tỉ lườn / slau tỉ lườn) do thầy cúng thực hiện với lễ vật gồm 3 con gà luộc, than cháy dở, bó đuốc và dao quắm để trừ tà ma.

4. Tục thờ thần ngoài sàn của người Nùng Phàn Slình có đặc điểm gì nổi bật?

Đồng bào duy trì tục thờ vị thần An Phủ Đại Vương (Nùng Trí Cao) tại sàn phơi ngoài nhà. Mỗi dòng họ có danh xưng "Hồ lọc", bài cúng và hèm riêng: họ Hoàng thờ Hồ lọc thống thến pẹc slịch tải hồng; họ Lý thờ Hồ lọc pằn lằn lằm kình nhị vị tải hồng; họ Lăng thờ Hồ lọc nhị vỉ lằn kình tắc tải hồng; họ Lâm thờ Hồ lọc toong chử pảo mòn lằn kình nhị vị tải hồng; họ Lường thờ Hồ lọc lặc cằn pảo mằn lằn kình tải hồng; riêng họ Tô và họ Triệu không có tục này.


Kết luận

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo Dân tộc học về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên qua tiến trình lịch sử từ truyền thống đến hiện đại. Bằng việc vận dụng lý thuyết Không gian xã hội và Biến đổi xã hội kết hợp phương pháp điền dã thực địa sâu sắc, tác giả đã làm rõ cấu trúc cư trú, nguyên tắc định danh, kỹ thuật tạo lập bản, các thiết chế xã hội và sự biến đổi của bản dưới tác động của chính sách xây dựng nông thôn mới. Công trình đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, có giá trị lý luận và thực tiễn đối với công tác nghiên cứu dân tộc học và quản trị phát triển xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.