phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần nội dung chính của Luận án được trình bày trong 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và tộc ngƣời nghiên cứu Chƣơng 2: Đặc điểm, cấu trúc bản của ngƣời Nùng Phàn Slình Chƣơng 3: Các thiết chế và quan hệ xã hội trong bản Chương 4: Những yếu tố tác động, xu hướng biến đổi của bản và một số vấn đề đặt ra 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỘC NGƢỜI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu về làng/bản là vấn đề được quan tâm của giới khoa học từ rất sớm, trong đó có sự tham gia của các nhà khoa học Dân tộc học/Nhân học, Xã hội học, Chính trị học, Sử học… Từ thế kỷ XVII, XVIII đề tài làng ở Việt Nam đã được các học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu, trong các kho tư liệu của công ty Đông Ấn, Anh, Hà Lan, Pháp. còn lưu giữ khá nhiều tư liệu về làng ở Việt Nam do các thương nhân phương Tây biên soạn như Mô tả vương quốc Đàng ngoài của S.Baron [85], Lịch sử Đàng ngoài của Richard [41], Vương quốc Đàng ngoài, hành trình và truyền giáo của A.
Nhìn chung, các cuốn sách này mới chỉ tập trung ghi chép một số vấn đề về làng xã Việt Nam. Với chủ đề làng/bản hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài như Katherine D. Blair có Four Villages: Architecture in Nepal (Kiến trúc ở Nepal, nghiên cứu đời sống của 4 làng) với 67 trang, tác giả đã giới thiệu về địa lí, khí hậu, các hình thức định cư, sự đa dạng dân tộc và các chủ đề liên quan [128]. Tìm hiểu về đời sống của những người dân trong làng có công trình Studies of Okinawan Village Life (Nghiên cứu về đời sống làng Okinawan) của Clarence J.
Trong đó, tác giả đã mô tả, phân tích sâu về làng ở Okinawa với nhiều tư liệu sinh động giúp cho người đọc có được những thông tin hữu ích về đời sống của những người dân địa phương. Clarence đã giới thiệu ba loại hình cư trú đại diện cho làng Okinawan là: cư trú theo cụm, mật tập và cư trú rải rác. Hàng loạt các chủ đề được tác giả giới thiệu: công nghệ, hệ thống gia đình, các ảnh hưởng thời chiến tranh, các hoạt động trợ cấp, vòng đời và tôn giáo [131]. Cũng hướng nghiên cứu trên, năm 1973, Lemoine Jacques xuất bản Một làng Hmông Xanh ở Thượng Lào.
Tác phẩm này đã mô tả chi tiết và cụ thể tổ chức xã 8 hội của người Hmông Xanh. Theo đó, các nóc nhà được coi là tế bào kinh tế, việc trao đổi buôn bán, tích lũy vốn và phân hóa xã hội, cho vay và nợ nần thông qua đồng Kíp - đồng tiền Lào hiện hành được phân tích rõ ràng, cụ thể. Vai trò xã hội của các thành viên trong gia đình, dòng họ được nghiên cứu một cách sâu sắc [42]. Về không gian làng/bản, trong Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, năm 1997, Georges Condominas đã mô tả từng chi tiết nhỏ nhất của làng Sar Luk, từ sản xuất cho đến sinh hoạt tín ngưỡng được mô tả như một chu kì khép kín, tuần tự.
Nghiên cứu của ông mang cả chiều cạnh không gian và thời gian. Tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử, đặc điểm kinh tế và xã hội mà nó có những biên độ khác nhau [32]. Nghiên cứu về xu hướng phát triển của làng có Developing village India: Studies in village problems (Làng đang phát triển ở Ấn Độ: Nghiên cứu các vấn đề về làng xã) của Mohinder Singh Randhawa. Theo tác giả, hai lĩnh vực kinh tế và văn hóa có sự tác động hỗ trợ nhau trong quá trình phát triển của làng.
Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu khá rộng, mang tính khái quát, không đi sâu cụ thể từng làng riêng biệt [133]. Ngoài ra, còn có The Village Concept in the Transformation of Rural Southeast Asia (Khái niệm làng trong quá trình chuyển đổi ở vùng nông thôn Đông Nam Á) do Christer Gunnarsson và Mason C. Hoadley đồng tác giả trình bày sự phát triển nhanh chóng của làng tại các nước Indonesia, Malaysia và Thái Lan, gồm 4 phần: Phần một, tác giả cho rằng, làng là một sự sáng tạo của nhà nước thuộc địa. Phần hai, chỉ ra nguyên nhân làm suy yếu các ngôi làng và giải pháp khắc phục.
Phần ba, tập trung nghiên cứu các ngôi làng ở Thái Lan và phần cuối đề cập các chính sách của nhà nước tác động tới đời sống của những người dân sống trong những ngôi làng ấy [129]. Nhìn chung, các công trình kể trên đều nghiên cứu về làng với cách tiếp cận Sử học, Dân tộc học/Nhân học. Nét nổi bật là sự đa dạng về hình thức tổ chức, không gian xã hội và sự phát triển của mỗi làng phụ thuộc vào điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội của mỗi đất nước. Qua đó, cũng thấy được những đặc trưng văn hóa riêng của mỗi dân tộc ở mỗi quốc gia.
Điều này góp phần định hướng cho NCS tìm hiểu về tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 1. Các công trình nghiên cứu về làng người Việt và làng/ bản ở các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Nghiên cứu về làng Việt xuất hiện từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đó là các công trình của Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục [14]; Ngô Tất Tố với Việc làng [106]; các bài báo của Hoàng Đạo đăng trong tập Bùn lầy nước đọng trên tạp chí Phong hóa [25]. Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, hàng loạt các tác phẩm của các học giả Việt Nam nghiên cứu tổng quan về làng xã đã được công bố, tiêu biểu là các cuốn sách: Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phon[74], các bộ Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (1977, 1978) [121], Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại do Viện Sử học biên soạn (1990, 1991) [122], Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ của Trần Từ [110], cùng rất nhiều sách, bài, tạp chí theo các chuyên đề, như Hương ước và quản lý làng xã của Bùi Xuân Đính [28], Làng Việt Nam, một số vấn đề kinh tế, xã hội và văn hoá của Phan Đại Doãn (1992, 2000) [20], Một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVII – XIX của Nguyễn Quang Ngọc, [64], Hành trình về làng Việt cổ [29], Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai - truyền thống và biến đổi của Bùi Xuân Đính [30]; Phan Đại Doãn, Làng Việt Nam đa nguyên và chặt [21]; Diệp Đình Hoa, Nguyễn Văn Bàng, Nguyễn Quang Nghị, Nguyễn Cao Sơn, Làng Nguyễn: Tìm hiểu làng Việt [35]; Nguyễn Quang Ngọc, Một số vấn đề làng xã Việt Nam [65].
Nghiên cứu về bản của các dân tộc thiểu số, có thể đề cập tới một số công trình sau đây: Năm 1993, Cầm Trọng và Nguyễn Ngọc Thanh giới thiệu Làng bản của các dân tộc thiểu số miền núi miền Bắc Việt Nam trên Tạp chí Dân tộc học số 2. Các tác giả cho rằng, làng bản là một khái niệm mới biểu thị nhận thức của người Việt Nam về đất nước và con người. Đồng thời đưa ra cách phân loại làng bản theo vùng địa lí cư dân và loại hình kinh tế - xã hội truyền thống [94]. Bàn về sự hình thành và điều kiện thành lập bản có Báo cáo điền dã dân tộc học Bản Tày của Phương Bằng.
Trong nghiên cứu này, tác giả đưa ra điều kiện cần 10 và đủ để đi đến kết định thành lập bản, đất ruộng và nước tưới là điều kiện tiên quyết. Chính điều kiện cư trú và canh tác là nguyên nhân tạo ra những bản Tày có cá tính riêng, như: nền kinh tế nhỏ mang nặng tính tự cấp tự túc và quan hệ giữa các bản và hệ thống chợ tạo nên sự trao đổi mua bán giữa các cư dân trong vùng [9]. Nghiên cứu về bản và các thiết chế xã hội của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, tác giả Nguyễn Ngọc Thanh đã có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Làng bản và nghi lễ của người Dao Đỏ ở một xã miền núi [80]; Làng của người Hmông ở Việt Nam [96]; Làng bản của người Dao Quần Chẹt ở Phú Thọ [97]; Một số đặc điểm về thiết chế làng bản của người Hà Nhì ở miền núi phía Bắc Việt Nam [98]; Một số đặc điểm làng bản của người Cao Lan ở Vĩnh Phúc [99]; Thiết chế bản của người Dao [101]. Nhìn chung, các bài viết này đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của tổ chức bản truyền thống trên các khía cạnh: ý nghĩa của tên bản, không gian sinh tồn, bộ máy tự quản, quy ước… Tuy nhiên, những yếu tố tác động và nguyên nhân biến đổi còn chưa được tác giả quan tâm đúng mức.
Nghiên cứu về đặc điểm làng bản, Hoàng Bé và Hoàng Minh Lợi có bài Làng bản của người Tày đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 4 đề cập tới nhà cửa, việc thờ cúng thần Cốc bản và Thổ công, tổ chức gia đình, tổ chức xã hội, sinh hoạt lễ nghi, và các quan hệ đạo đức xã hội, đồng thời nêu ra những vấn đề cấp bách cần được giải quyết trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, xây dựng nông thôn mới đối với các làng bản người Tày ở Bắc Kạn [12]. Cũng theo hướng nghiên cứu trên, trong cuốn Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam, Đỗ Thúy Bình cho rằng bản người Tày, Nùng, Thái đều nằm dưới các chân núi, sườn đồi. Số lượng nhà cửa trong một bản khá lớn, đôi khi đạt và vượt quá trăm nóc. Người Tày, Thái sống ở nhà sàn, còn người Nùng tùy từng nơi vừa sống ở nhà sàn, vừa sống ở nhà nền đất.
Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích chi tiết đặc điểm bản của tộc người nghiên cứu [13]. Nghiên cứu về không gian cư trú làng bản có thể đề cập đến hai luận văn thạc sĩ lịch sử của Trần Văn Quyền Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai Thái Nguyên [97] và Triệu Quỳnh Châu Làng bản của người Tày ở huyện 11 Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng [16]. Ở cả hai công trình đã tập trung giới thiệu không gian sinh tồn, cơ cấu tổ chức, những đặc trưng và vai trò của bản trong lịch sử, những thay đổi của làng/bản người Tày từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.