CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYÉT, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu về tong trợ cộng dong trên thé giới và Việt Nam Tương trợ cộng đồng nghĩa là các thành viên sống trong cùng một cộng đồng giúp đỡ lẫn nhau. Hành động giúp đỡ trong cuộc sống diễn ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, có thể là hữu hình như tặng quà, mời cơm; hay vô hình như hỗ trợ chỗ ở và giúp đỡ khi cần thiết [92, tr.
Ở Trung Quốc và Singapore người ta quan niệm tương trợ cộng đồng là hành động quan trọng trong nghi lễ vòng đời [95, tr. Người Trung Quốc quan niệm trong nghi lễ vòng đời, khách mời phải cỗ gắng tham dự và tặng các món quà bằng tiền mặt và hiện vật [91, tr. Tương trợ cộng đồng là cơ sở dé nuôi dưỡng các mối quan hệ cá nhân [94, tr. Quà tặng vật chất và tinh thần trong mối quan hệ tương trợ cộng đồng có bốn chức năng: giao tiếp, trao đôi xã hội, trao đổi kinh tế va xã hội hóa [96, tr.
Người ta tặng qua dé biểu hiện tinh thân, bày tỏ sự quan tâm đến người nhận. Sherry (1983) cho rang “qua tang là những biểu hiện hữu hình của các moi quan hệ xã hội” [96, tr. Đồng quan điểm với Sherry, Camerer (1988) phát triển thêm “tặng quà là một trải nghiệm xã hội, văn hoá và kinh té; trao đổi thông tin vật chất và xã hội có liên quan đến xã hội loài người và là công cụ trong việc duy trì các moi quan hệ xã hội và thể hiện cảm xúc” [94, tr. Theo Mauss (1950) tang qua diễn ra theo một hệ thống, có thé tóm tat thành 3 bước như sau: nghĩa vụ tặng, nghĩa vụ nhận và nghĩa vụ tặng lại.
Mối quan hệ tương hỗ cứ diễn ra như thế, vai trò của người cho và người nhận liên tục bị đảo ngược dé duy tri méi quan hé trao déi qua thoi gian [94, tr. Mauss 6 cho rằng người nhận quà mà không đáp tặng thì sẽ bị cộng đồng đánh giá là người thấp kém, khi thực hiện đáp tặng người được tặng thường tặng bằng hoặc nhiều hơn số lượng họ đã nhận, dé thé hiện vị thé của mình [39, tr. Nguyên tắc có đi có lại đường như là phổ quát trong tất cả các nền văn hóa. “Đôi khi những món quà trao đổi chính là cùng một loại.
Người ta có thể tặng di và nhận lại cùng là một qua bóng sennit, hoặc một gói thức ăn biếu di và được tặng lại một gói thức ăn khác” [93, tr. Cứ như thế, mỗi quan hệ tương trợ cộng đồng trong nghi lễ vòng đời nói riêng và trong cuộc sông nói chung được duy trì lâu dài. Trong thời gian gần đây các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mối quan hệ tương trợ cộng đồng đang biến đổi theo 2 xu hướng: người ta ngày càng thực hiện tương trợ trong nhiều dịp hơn, mối quan hệ tương trợ giữa những người ngoài huyết thống ngày càng trở nên phô biến hơn [92]. Ở Việt Nam, trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây những công trình nghiên cứu của các tác giả Lương Văn Hy, Lương Hồng Quang, Alexander Soucy, Nguyễn Tuấn Anh.
đã phần nào làm rõ vai trò của mạng lưới quan hệ xã hội trong việc tương trợ và cô kết cộng đồng. Trong khi các tác giả Luong Hong Quang và Nguyễn Tuan Anh quan tâm nhiều đến hoạt động và mối quan hệ của các thành viên trong các tổ chức xã hội như quan hệ họ hàng, hội đồng niên; thi các tác giả Lương Văn Hy và Nguyễn Hải Hà lại quan tâm đến khía cạnh biếu tặng quà của người Việt ở hai cộng đồng làng Bắc Bộ và Nam Bộ [8; 9; 25; 34; 52; 53; 54]. Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên góp phần làm rõ vai trò của dòng quà và sự tương trợ trong việc tạo dựng vốn xã hội của cá nhân, gia đình trong “cuộc chơi có tinh xã hội”". Tuy nhiên, các công trình đó mới chỉ dừng lại ở vùng đồng băng nơi người Kinh sinh sống, mà chưa mở rộng tìm hiểu mối quan hệ tương trợ cộng đông ở vùng các dân tộc thiêu sô.
! Từ gọi của Tessier (2010) 1. Những nghiên cứu về twong trợ cộng đồng trong bỗi cảnh nghỉ lễ vòng doi của người Nùng Phan Slình Trong công trình của mình, các tác giả Lã Văn Lô - Đặng Nghiêm Vạn, Ma Tiến Dũng, Hoàng Nam, Viện Dân tộc học, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn. trình bày một cách khái quát tat cả các nghi lễ trong chu kỳ đời người, rồi đánh giá vai trò của từng nghi lễ đối với từng thời kỳ trưởng thành của con người [37; 17; 40; 86; 84]. Thời kỳ ấu thơ có các nghi lễ đầy tháng, với các thủ tục lập bàn thờ mụ, đặt tên con, đây là nghi lễ khởi đầu của chu kỳ đời người [37, tr.
31 - 32]; thời kỳ trưởng thành có nghỉ lễ cưới xin, đây là nghi lễ quan trọng, đánh dấu bước ngoặt từ cuộc sống cá nhân sang cuộc sông gia đình, với hàng loạt nghi lễ bắt đầu từ lễ dạm hỏi đến lễ lại mặt [87, tr. 195], về già có nghi lễ tang ma, đây là nghi lễ lớn nhất, hết sức phức tạp va tốn kém, với hàng chục nghĩ lễ [37, tr. Trong bài viết về “Hôn nhân truyền thống của người Nùng Phan Slình”, tác giả Lê Minh Anh trình bày diễn trình nghỉ lễ cưới xin từ khi dạm hỏi đến khi lại mặt [2, tr. Về tang ma, các tác giả Nguyễn Thị Ngân, Nguyễn Anh Tuan ngoài mô tả chỉ tiết về đám tang truyền thống đã bước đầu trình bày những biến đổi của tang ma trong bối cảnh hội nhập.
Tuy nhiên, như đã nói ở trên hầu hết các công trình nghiên cứu về nghi lễ vòng đời đã công bố mới chỉ tập trung nghiên cứu diễn trình nghỉ lễ, mà chưa đi sâu vào tiếp cận khía cạnh tương trợ cộng đồng của nghi lễ vòng đời trong bối cảnh hội nhập hiện nay [42; 45; 79]. Có thể coi các tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Lê Minh Anh là những người đầu tiên đề cập đến tương trợ cộng đồng, khi nghiên cứu về tương trợ cộng đồng ở vùng miền núi, mà cụ thể ở đây là người Nùng Phàn Slình. Trong bài viết của mình Nguyễn Anh Tuấn sử dụng khung lý thuyết vốn xã hội, làm cơ sở dé tìm hiểu những ghi chép về mối quan hệ vay mượn dip cưới xin và tang ma của người Nùng Phan Slinh trong cuốn “sé ng doi”. Cuốn số này được xem xét như một minh chứng cho những mối quan hệ tương trợ giữa người cho và người nhận.
Bài viết phân tích cuốn “sổ nợ doi” từ những góc cạnh: “sé nợ đời” phat huy tác dụng lúc nào, những ai được ghi danh trong cuốn sô và tiếp cận cuốn số dưới góc nhìn nhân học liên chủ thé. Tiếp theo, tác giả rút ra những nhận xét về mối liên hệ của liên mạng xã hội, tính găn kết liên chủ thể trong mạng lưới quan hệ xã hội của các chủ thé. Từ đó, tác giả khang định cuốn số là một minh chứng khang định sự cam kết giữa các cá nhân trong mạng lưới xã hội mà họ tham gia [81, tr. Khác với Nguyễn Anh Tuan, trong nhiều bài viết dé cập đến quan hệ dòng họ và tương trợ công đồng của người Nùng Phàn Slình ở vùng cao biên giới Việt - Trung, nhà nghiên cứu Lê Minh Anh đã vận dụng lý thuyết vốn xã hội dé xem xét yếu tô tương trợ cộng đồng trong các nghỉ lễ vòng đời như cưới xin, tang ma, làm nhà và lao động sản xuất.
Tác giả nhận định răng, khác với tương trợ trong đám cưới khi mối quan hệ tương trợ chủ yếu dường lại ở quan hệ họ hàng và hàng xóm thân thiết thì quan hệ tương trợ trong tang ma có phần mở rộng hơn về đối tượng và được tô chức quy củ hơn. Thông qua những nghiên cứu của mình, tác giả đưa ra nhận định dưới tác động của nên kinh tế thi trường, đi đôi với đó là sự biến đổi về mặt kinh tế, văn hóa - xã hội, quan hệ tương trợ của người Nùng Phàn Slình ngày càng biến đổi theo xu hướng tăng cả về số lượng người tham gia và số lượng vật chất biếu tặng. Trong các nghiên cứu của mình, tác giả cho rằng họ hàng đóng vai trò rất quan trọng trong mối quan hệ tương trợ, mối quan hệ càng thân thích thì vai trò tương trợ càng lớn [4; 5; 6]. Khác với hai tác giả trên, trong các công trình của mình tác giả Lý Việt Trường tập trung vào các khía cạnh của vôn xã hội, như tô chức tương trợ cộng ? Từ gọi của Nguyễn Anh Tuấn (2011).
Chúng tôi gọi là số gia đình. 9 đồng trong tang ma là hàng phường. Trong một bài viết về tổ chức hàng phường, tác giả ngoài trình bay cơ cấu tổ chức và cách thức vận hành của tổ chức này còn đi sâu vào tìm hiểu vai trò tương trợ và cô kết cộng đồng của hàng phường [73; 75]. Bên cạnh việc tìm hiểu tổ chức tương trợ cồng đồng, tác giả cũng quan tâm tìm hiệu mối quan hệ biếu tặng có đi có lại và sự biến đổi của dòng qua tặng trong một số nghi lễ vòng đời như sinh đẻ, sinh nhật [74; 76].
Ngoài ra, tác giả còn đi sâu vào tìm hiểu cuốn số gia đình và số hàng phường, hai cuốn số được coi là bằng chứng ghi chép lại những mối quan hệ biếu tặng, sự biến đổi của dòng quà và mạng lưới xã hội từ trong truyền thống đến hiện tại [78]. Tuy nhiên, các tác giả trên mới chỉ dừng lại ở khía cạnh tương trợ vật chất, mà chưa đi sâu vào tìm hiểu khía cạnh tương trợ tinh thần và công sức. Mặc dù vậy, những công trình của các tác giả trên đã góp phần gợi mở hướng tiếp cận tương trợ cộng đồng bằng lý thuyết nhân học. Một số khái niệm và lý thuyết nghiên cứu 1.
Khái niệm sw dụng trong luận van Tương trợ cộng đồng nghĩa là những người sống trong một cộng đồng giúp đỡ lẫn nhau. Tương trợ là giúp đỡ lẫn nhau; cộng đồng là toàn thé những người sống thành một xã hội, có chung những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối [49, tr. Cé kết cộng đồng, là sự gan kết chặt chẽ như một chỉnh thé thống nhất giữa các thành viên trong cộng đồng, sự gắn kết này được tạo thành bởi sự hấp dẫn xúc cảm lẫn nhau, sự tin tưởng, mục đích hoạt động chung và thống nhất các định hướng giá trị hoạt động của các thành viên trong nhóm [33, tr.