Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đổi mới đất nước từ năm 1986 đã tạo nên những chuyển biến sâu sắc trong đời sống kinh tế và văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại vùng Đông Bắc Việt Nam. Tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, người Sán Chỉ là một trong những cộng đồng cư dân có lịch sử định cư lâu đời, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu xã hội địa phương. Tính đến tháng 12 năm 2018, cộng đồng người Sán Chỉ tại huyện Tiên Yên có 4.084 nhân khẩu với 913 hộ gia đình, chiếm khoảng 8,1% dân số toàn huyện, phân bố tập trung chủ yếu tại các xã vùng cao như Đại Dực và Đại Thành.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện, phân tích thực trạng và quy luật biến đổi trong đời sống kinh tế - văn hóa của người Sán Chỉ ở Tiên Yên giai đoạn 1986 - 2018. Mục tiêu cụ thể bao gồm việc làm rõ các hình thái kinh tế truyền thống, sự chuyển dịch sang kinh tế hàng hóa, quá trình tiếp biến văn hóa, cùng những thách thức đặt ra đối với việc bảo tồn bản sắc tộc người trước tác động của kinh tế thị trường. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 12 đơn vị hành chính của huyện Tiên Yên, tập trung sâu tại các xã vùng cao có tỷ lệ người Sán Chỉ chiếm tới 95% dân số xã như Đại Dực. Phạm vi thời gian tập trung từ năm 1986 đến năm 2018, kết hợp khảo cứu nguồn gốc lịch sử từ thế kỷ XVI để xác định rõ tính liên tục văn hóa.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của huyện Tiên Yên đạt 15,2% vào năm 2017 và tổng thu ngân sách đạt 87 tỷ đồng. Kết quả luận văn cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ việc hoạch định chính sách dân tộc, hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết sinh thái nhân văn tộc người làm nền tảng phân tích. Lý thuyết sinh thái nhân văn giúp luận giải mối quan hệ tương hỗ giữa phương thức sinh kế của người Sán Chỉ với môi trường tự nhiên vùng đồi núi có diện tích 61.707 ha của huyện Tiên Yên. Trong khi đó, lý thuyết biến đổi văn hóa làm sáng tỏ các quy luật giao lưu, tiếp biến văn hóa khi cộng đồng Sán Chỉ sống xen cư với các dân tộc Kinh (chiếm 54,3% dân số huyện), Tày (chiếm 14,12%), Dao và Sán Dìu.

Các khái niệm chính được định nghĩa nhất quán bao gồm: văn hóa tộc người, sinh kế thích ứng, tiếp biến văn hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Về mặt phân loại học, người Sán Chỉ cùng với người Cao Lan là hai nhánh thuộc dân tộc Sán Chay. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, người Sán Chay chiếm 1,41% dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê dân số, trong đó nhóm Sán Chỉ chiếm trên 80% tổng số người Sán Chay tại địa phương. Nghiên cứu xác lập mô hình phân tích hai chiều: một mặt đánh giá sự biến đổi của các thành tố kinh tế vật chất (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủ công nghiệp), mặt khác đo lường mức độ duy trì các giá trị văn hóa tinh thần (ngôn ngữ, phong tục tập quán, tri thức dân gian).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp chặt chẽ giữa tài liệu thành văn và tư liệu điền dã thực địa. Nguồn tư liệu thành văn bao gồm các văn kiện Đảng bộ huyện Tiên Yên từ Đại hội lần thứ XVI tháng 9 năm 1986, các số liệu thống kê kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện, cùng các công trình nghiên cứu lịch sử, dân tộc học đã xuất bản.

Cỡ mẫu khảo sát thực địa được thực hiện thông qua phương pháp chọn mẫu chủ đích tại 5 địa bàn trọng điểm: xã Đại Dực (353 hộ), xã Đại Thành (203 hộ), xã Đông Hải (164 hộ), xã Phong Dụ (84 hộ) và xã Đông Ngũ (82 hộ). Tác giả đã tiến hành 45 cuộc phỏng vấn sâu đối với các già làng, trưởng bản, nghệ nhân dân gian và các chủ hộ sản xuất kinh doanh tiêu biểu. Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu chủ đích và phỏng vấn sâu là nhằm khai thác tối đa tri thức bản địa và ghi nhận chân thực những biến đổi trong nếp sống của người dân qua hơn 3 thập kỷ. Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được sử dụng chủ đạo, kết hợp với các kỹ thuật thống kê mô tả, so sánh đối chiếu nhằm hệ thống hóa dữ liệu, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao cho toàn bộ công trình.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự chuyển biến căn bản từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trước năm 1986, người Sán Chỉ chủ yếu canh tác lúa nương 1 vụ với năng suất thấp. Giai đoạn sau Đổi mới, diện tích làm nương giảm dần, nhường chỗ cho thâm canh lúa nước 2 vụ (Đông Xuân và Hè Thu) trên diện tích canh tác gần 2.000 ha ruộng lúa toàn huyện. Các giống lúa thuần chất lượng cao như Khang Dân, Bao Thai, Chân Trâu Lùn và các giống lúa lai nhập khẩu đã thay thế hoàn toàn giống lúa nương cổ truyền. Tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất và thu hoạch tăng mạnh với sự xuất hiện phổ biến của máy cày tay, máy bơm nước và máy tuốt lúa.

Thứ hai, ngành chăn nuôi và chế biến nông sản ghi nhận sự bứt phá với các sản phẩm đặc sản mang thương hiệu địa phương. Chăn nuôi gà Tiên Yên (giống gà râu bản địa) đã phát triển thành mũi nhọn kinh tế hàng hóa, đóng góp vào tổng đàn gà trên 500.000 con của huyện vào năm 2017. Nhiều hộ gia đình người Sán Chỉ tại xã Đại Thành như hộ anh Nình A Voòng và anh Tằng Văn Minh đạt quy mô nuôi 1.000 con gà/năm, mang lại lợi nhuận ròng gần 100 triệu đồng mỗi năm. Nghề làm miến dong truyền thống tại xã Đại Dực và Đại Thành được nâng cấp từ phương pháp thủ công sang ứng dụng máy nghiền bột và lọc lắng bán tự động. Quy trình xử lý 1 kg bột dong khô hòa 20 - 25 kg bột ướt qua 2 - 3 lần lọc mỗi ngày trong chu kỳ 5 - 7 ngày giúp nâng cao chất lượng miến, đưa sản phẩm đạt chuẩn nhãn hiệu thương phẩm OCOP.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế lâm nghiệp chuyển dịch tích cực theo định hướng bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Sau khi diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng chỉ còn 38% đất lâm nghiệp vào những năm đầu thập niên 1980, các chính sách giao đất giao rừng đã thúc đẩy người Sán Chỉ trồng mới hàng nghìn hecta rừng keo, quế Khe Táu và cây sở, góp phần quản lý hiệu quả 29.330 ha đất rừng tự nhiên và rừng trồng của huyện Tiên Yên.

Thứ tư, văn hóa truyền thống ghi nhận sự biến đổi đan xen giữa bảo tồn và mai một. Trang phục truyền thống với váy chàm viền đỏ và các làn điệu dân ca Soóng Cọ vẫn được gìn giữ trong các dịp lễ hội. Tuy nhiên, các nghề thủ công như dệt vải bông nhuộm chàm, nghề mộc ghép mộng và tri thức y học dân gian (vốn sử dụng hơn 200 loài cây thuốc và bài thuốc cao cây phối trộn từ hơn 100 loài thảo dược) đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng do sự cạnh tranh từ sản phẩm công nghiệp hiện đại.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, quy mô đàn vật nuôi và cơ cấu dân số có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện tỷ trọng kinh tế hộ gia đình giai đoạn 1986 - 2018 và bảng thống kê phân bố 913 hộ dân cư Sán Chỉ trên địa bàn 12 xã, thị trấn. Nguyên nhân chính dẫn đến sự chuyển biến kinh tế - văn hóa bắt nguồn từ hạ tầng giao thông kết nối liên vùng (Quốc lộ 18, Quốc lộ 18C, Quốc lộ 4) được nâng cấp, mở rộng thị trường giao thương nông - lâm sản.

Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây của các học giả về người Sán Chay ở vùng Đông Bắc, kết quả nghiên cứu tại Tiên Yên cho thấy quá trình thích ứng sinh kế của người Sán Chỉ ở đây diễn ra nhanh hơn nhờ lợi thế địa kinh tế ven biển và mạng lưới giao thương cửa khẩu. Đời sống vật chất được nâng cao rõ rệt đã tạo tiền đề củng cố an ninh biên giới, tuy nhiên việc thương mại hóa nhanh chóng cũng đặt ra bài toán cấp bách về việc gìn giữ các giá trị văn hóa phi vật thể trước nguy cơ đồng hóa văn hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao chuỗi giá trị và thương hiệu cho các sản phẩm nông sản chủ lực của người Sán Chỉ. Đích hướng tới là nâng sản lượng miến dong Đại Dực đạt mức trên 500 tấn/năm và gắn mã QR truy xuất nguồn gốc điện tử cho 100% đàn gà Tiên Yên thương phẩm. Lộ trình thực hiện từ năm 2020 đến năm 2025, do Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tiên Yên chủ trì, phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các xã Đại Dực, Đại Thành.

Thứ hai, phát triển mô hình du lịch sinh thái văn hóa cộng đồng gắn với ruộng bậc thang và kiến trúc nhà sàn truyền thống. Mục tiêu đặt ra là thu hút khoảng 50.000 lượt khách du lịch mỗi năm về thăm các thôn Khe Lục, Khe Ngàn, nâng thu nhập bình quân của người dân lên mức 45 triệu đồng/người/năm. Thời gian triển khai trong giai đoạn 2021 - 2026, do Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Tiên Yên chỉ đạo thực hiện với sự tham gia trực tiếp của các hộ gia đình bản địa.

Thứ ba, xây dựng đề án khẩn cấp bảo tồn tri thức dân gian và di sản văn hóa phi vật thể. Mục tiêu trọng tâm là phục hồi kỹ thuật dệt nhuộm chàm, tư liệu hóa hơn 200 loài cây thuốc nam và thành lập 3 câu lạc bộ hát Soóng Cọ tại các trường học vùng cao. Kế hoạch triển khai từ năm 2020 đến năm 2024, do Hội Di sản Văn hóa địa phương phối hợp Trung tâm Y tế huyện và ngành Giáo dục Tiên Yên đảm nhiệm.

Thứ tư, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật thủy lợi và giao thông liên thôn. Cần kiên cố hóa 100% hệ thống kênh mương tưới tiêu phục vụ sản xuất lúa 2 vụ và bê tông hóa toàn bộ đường giao thông kết nối các xã vùng cao như Hà Lâu, Phong Dụ, Đại Dực. Thời gian thực hiện từ năm 2021 đến năm 2025, do Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng huyện Tiên Yên làm chủ đầu tư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý công tác dân tộc cấp tỉnh, huyện. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về 913 hộ người Sán Chỉ và 4.084 nhân khẩu, hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng các đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chương trình xây dựng nông thôn mới.

Nhóm thứ hai: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Dân tộc học và Văn hóa học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị trong giảng dạy lịch sử địa phương, cung cấp khung phân tích về chuyển đổi sinh kế và biến đổi văn hóa tộc người trong thời kỳ Đổi mới.

Nhóm thứ ba: Doanh nghiệp, hợp tác xã và các nhà đầu tư phát triển sản phẩm OCOP và du lịch trải nghiệm. Tài liệu phân tích chi tiết quy trình chế biến miến dong, chăn nuôi gà đồi và tiềm năng cảnh quan ruộng bậc thang Đại Dực, mở ra cơ hội xây dựng các chuỗi liên kết kinh tế bền vững.

Nhóm thứ tư: Sinh viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Công trình là hình mẫu tham khảo về phương pháp điền dã dân tộc học, kỹ năng xử lý dữ liệu định tính và định lượng kết hợp trong nghiên cứu lịch sử hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Cộng đồng người Sán Chỉ di cư đến Tiên Yên vào thời điểm nào và phân bố ở đâu? Theo các tư liệu gia phả dòng họ Nình tại xã Đại Dực, người Sán Chỉ di cư vào Việt Nam và có mặt tại Tiên Yên từ khoảng cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII, sớm nhất được ghi nhận vào năm Cảnh Hưng thứ nhất (1743). Hiện nay, cộng đồng phân bố tập trung nhiều nhất tại xã Đại Dực (1.449 nhân khẩu) và xã Đại Thành (837 nhân khẩu).

Sự chuyển đổi trong phương thức canh tác nông nghiệp của người Sán Chỉ sau năm 1986 là gì? Người Sán Chỉ đã chuyển đổi mạnh mẽ từ phương thức chọc lỗ tra hạt trên nương rẫy 1 vụ sang canh tác lúa nước 2 vụ thâm canh với các giống lúa năng suất cao như Khang Dân, Bao Thai. Quy trình canh tác hiện đại kết hợp cơ giới hóa máy cày, máy gặt và hệ thống kênh mương thủy lợi kiên cố.

Sản phẩm kinh tế hàng hóa nào mang lại hiệu quả cao nhất cho người Sán Chỉ tại Tiên Yên? Hai sản phẩm chủ lực mang lại giá trị cao nhất là gà Tiên Yên (gà râu) và miến dong Đại Dực. Nhiều hộ chăn nuôi gà đạt quy mô 1.000 con/năm cho thu nhập gần 100 triệu đồng, trong khi nghề làm miến dong tinh bột nguyên chất đã trở thành sản phẩm OCOP tiêu biểu được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường.

Tri thức y học dân gian của người Sán Chỉ có đặc điểm gì nổi bật? Người Sán Chỉ nắm giữ kho tàng tri thức phong phú với hơn 200 loài cây thuốc tự nhiên, trong đó khoảng 100 loài thường xuyên được sử dụng. Đặc sắc nhất là phương pháp nấu cao cây phối trộn từ hơn 100 vị thuốc để chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe theo nguyên lý y học cổ truyền.

Những nét văn hóa truyền thống nào của người Sán Chỉ đang đứng trước nguy cơ mai một? Nghề trồng bông dệt vải nhuộm chàm truyền thống gần như không còn được duy trì do phụ nữ chuyển sang mua quần áo may sẵn. Đồng thời, nghề mộc thủ công ghép mộng và các làn điệu dân ca Soóng Cọ cũng đang suy giảm số lượng nghệ nhân nắm giữ, đòi hỏi các biện pháp bảo tồn cấp thiết.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển kinh tế và biến đổi văn hóa của 4.084 người Sán Chỉ tại huyện Tiên Yên suốt 32 năm đổi mới (1986 - 2018).
  • Ghi nhận sự chuyển dịch phương thức sinh kế ngoạn mục từ canh tác nương rẫy tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa với các thương hiệu mũi nhọn như gà đồi Tiên Yên và miến dong OCOP Đại Dực.
  • Phân tích rõ thực trạng bảo tồn trang phục, ngôn ngữ, dân ca Soóng Cọ song song với việc cảnh báo nguy cơ mai một các nghề thủ công truyền thống và tri thức thuốc nam bản địa.
  • Đóng góp nguồn tư liệu điền dã thực chứng chuẩn xác, phục vụ công tác nghiên cứu dân tộc học và hoạch định chính sách phát triển vùng đồng bào thiểu số tại tỉnh Quảng Ninh.
  • Định hình lộ trình giai đoạn 2020 - 2025 với hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về phát triển sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm đến mô hình chuyển đổi sinh kế vùng đồng tộc người thiểu số có thể khai thác trực tiếp toàn văn công trình luận văn thạc sĩ lịch sử này để ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy, nghiên cứu và phát triển địa phương.