CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA 1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về lĩnh vực văn hóa và xử phạt hành chính trong lĩnh vực văn hóa 1.1 Khái niệm, đặc điểm của văn hóa a) Khái niệm văn hóa: Văn hóa có mối liên hệ đến với mọi mặt, mọi lĩnh vực trong đời sống từ những sản phẩm là vật chất như nhà cửa, phương tiện đi lại, trang phục cho đến những sản phẩm phi vật chất là ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị. Văn hóa hiện diện trong cuộc sống thường ngày như lẽ tất nhiên, không thể thiếu. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa về văn hóa với nội dung nhấn mạnh vào việc sáng tác của cộng đồng, cùng với đó là tiến trình phát triển lịch sử mà con người trải qua đã tạo nên những giá trị nhân văn phổ quát, bản sắc cũng như đặc thù riêng của mỗi dân tộc.1 Theo Từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Dân trí có định nghĩa về văn hoá như sau: "Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong lịch sử" 2.
Văn hóa theo góc độ của pháp luật thì được thể hiện trong các lĩnh vực sau: điện ảnh, hoạt động biểu diễn nghệ thuật, hoạt động tổ chức lễ hội, kinh doanh dịch vụ Karaoke, dịch vụ vũ trường, hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa cộng đồng; hoạt động về mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm; di sản văn hóa; thư viện.3 Có thể thấy, chỉ với hai chữ văn hóa nhưng có vô vàn cách hiểu và khái 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr78,126. 2 Từ điển Tiếng Việt do Ngọc Lương chủ biên, Nxb Dân trí, Hà Nội,2021, tr.677 3 Chương 2 của Nghị định 38/2021/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2021 8 niệm từ khái quát cho đến cụ thể, từ rộng lớn cho đến nhỏ hẹp. Nhưng từ góc độ quản lý nhà nước, thì văn hóa sẽ được quản lý theo từng lĩnh vực trong đời sống. Theo cách quản lý như vậy sẽ có thể đưa ra những điều chỉnh sát với thực tiễn hơn, cải thiện và nâng cao đời sống xã hội.
b) Đặc trưng của văn hóa: Để nhận diện một vấn đề hay một sự việc có liên quan đến phạm trù văn hóa hay không thì cần nhận diện thông qua các đặc trưng của văn hóa. Cụ thể: Thứ nhất, văn hóa có tính lịch sử. Như đã nêu ở định nghĩa, văn hóa là những sản phẩm từ vật chất cho đến phi vật chất được con người sáng tạo và truyền lại qua nhiều thế hệ. Vì vậy, văn hóa cũng gắn liền với chiều dài lịch sử, thậm chí văn hóa bao hàm cả lịch sử.
Đặc tính lịch sử khiến văn hóa có bề dày, có chiều sâu, có hệ giá trị riêng biệt. Đồng thời bởi tính lịch sử mà văn hóa càng cần được duy trì, bảo tồn và phát triển để trở thành truyền thống văn hóa. Thứ hai, văn hóa có tính nhân sinh. Khác với các giá trị tự nhiên vốn có, văn hóa được tạo nên bởi bàn tay và trí óc của con người nên chắc chắn cũng sẽ chịu tác động của cả vật chất lẫn tinh thần của con người.
Văn hóa vô hình chung đã trở thành sợi dây liên kết các chủ thể trong cộng đồng lại với nhau. Thứ ba, văn hóa có tính hệ thống. Hàng loạt các sự kiện, hiện tượng, quy luật được liên kết với nhau trong quá trình phát triển bởi “trụ cột” là văn hoá. Tính hệ thống giúp cho văn hóa thực hiện được các chức năng của xã hội.
Văn hóa bao trùm lên tất cả các mặt, các lĩnh vực, các hoạt động xuất hiện và tồn tại trong xã hội, góp phần cải thiện độ ổn định của xã hội, cung cấp và trang bị cho con người những phương tiện cần thiết để đối phó với tự nhiên. Cuối cùng, văn hóa mang trong mình tính giá trị. Theo một khía cạnh khác, văn hóa còn mang ý nghĩa là những điều tốt đẹp, có giá trị nhất định. Tự bao giờ,văn hóa trở thành thước đo chuẩn mực cho cả con người và cả xã hội.
Người ta thường nói người có văn hóa là người tốt, có giá trị và đáng được tôn trọng.2 Khái niệm, đặc điểm của vi phạm hành chính a) Khái niệm vi phạm hành chính: Vi phạm hành chính là một trong số những loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay. Tuy mức độ nguy hiểm của loại vi phạm này thấp hơn các loại vi phạm khác nhưng vi phạm hành chính lại gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng. Bởi mức ảnh hưởng không quá nghiêm trọng nên các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính vẫn ngang nhiên làm và không được ngăn chặn và xử phạt kịp thời. Từ mức độ ảnh hưởng kết hợp với thực tiễn diễn ra mà hiện nay xã hội cũng như Chính phủ cũng dành sự quan tâm cho công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính.
Về phương diện lý luận cũng như thực tiễn, vi phạm hành chính là khái niệm mang đầy đủ đặc trưng, phản ánh đúng bản chất vấn đề, thể hiện được mức độ ảnh hưởng, gây hại cho xã hội cũng như đã thể hiện được sự khác biệt giữa hành vi vi phạm hành chính và tội phạm. Vi phạm hành chính là cụm từ đã được đề cập đến từ những năm 90s. Trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính ở nước ta thời bấy giờ, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được đề cập và định nghĩa chính thức tại Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 (Pháp lệnh năm 19894.Cho đến năm 1995 với Pháp lệnh thời đó, chúng ta được lại tiếp cận gián tiếp với khái niệm “vi phạm hành chính”. Trong pháp lệnh, khái niệm này không được định nghĩa cụ thể mà lại được định nghĩa thông qua một khái niệm khác là “xử phạt vi phạm hành chính” tại khoản 2 Điều 1: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm 4 Pháp lệnh số 28-LCT/HĐNN8 về xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 10 hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”5.
Đến Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (Pháp lệnh năm 2002), Nhà nước ta vẫn giữ cách tiếp cận gián tiếp như trong Pháp lệnh năm 19956. Hiện nay, khái niệm “vi phạm hành chính” được thể hiện rõ tại khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020, theo đó: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”7. Có thể thấy, Nhà nước ta đã nhận định và điều chỉnh những hành vi vi phạm hành chính từ những năm 90s và cho đến bây giờ ngày càng cụ thể và phù hợp với thực tiễn hơn bằng những điều khoản trong các văn bản quy phạm pháp luật. b) Đặc điểm của vi phạm hành chính Để xác định một hành vi có phải là vi phạm hành chính hay không thì cần xác định các dấu hiệu pháp lý.
Có 4 dấu hiệu pháp lý cần được nhận diện tại đây. Đầu tiên là mặt khách quan. Một vi phạm hành chính bắt buộc phải có hành vi vi phạm hành chính. Nếu không có điều kiện này thì không thể kết luận một hành vi là vi phạm phạm hành chính.
Các yếu tố khác như: Thời gian và địa điểm thực hiện hành vi vi phạm; Công cụ, phương tiện vi phạm; Hậu quả và mối quan hệ nhân quả cũng là 1 phần trong mặt khách quan của vi phạm hành chính. Thứ hai là mặt chủ quan của vi phạm hành chính. Mặt chủ quan được thể 5 Pháp lệnh số 41-L/CTN về xử lý vi phạm hành chính năm 1995 6 Pháp lệnh 44/2002/PL-UBTVQH10 về xử lý vi phạm hành chính năm 2002 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 11 hiện là dấu hiệu lỗi của đối tượng vi phạm. Vi phạm hành chính bắt buộc phải là hành vi có lỗi và được thể hiện dưới dạng lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý được thực hiện bởi chủ thể có năng lực dân sự đầy đủ.
Thứ ba, dấu hiệu về chủ thể của vi phạm hành chính. Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể theo pháp luật quy định. Cuối cùng là khách thể của vi phạm hành chính. Dấu hiệu khách thể trong vi phạm hành chính là hành vi xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước gây ảnh hưởng, thiệt hại nhất định.3 Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa a) Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa: Trong tổng thể các văn bản pháp luật từ xưa đến nay, từ những Pháp lệnh về xử phạt vi phạm văn hóa cho đến các văn bản pháp luật hiện hành là Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 và Nghị định 38/2021/NĐ-CP đã có những định nghĩa pháp lý nào về vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa.
Từ những quy định pháp luật chúng ta có thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực văn hóa một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và hành vi vi phạm này phải chịu xử phạt hành chính theo quy định pháp luật Trong cuộc sống, có rất nhiều hành vi vi phạm được thực hiện nhưng để xác định những hành vi đó có phải là hành vi vi phạm trong lĩnh vực văn hóa không thì lại cần có các căn cứ pháp lý.