Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính Cơ sở của việc xử phạt vi phạm hành chính là vi phạm hành chính bởi chỉ khi có vi phạm hành chính xảy ra mới xem xét đến việc xử phạt. Nghiên cứu, làm rõ khái niệm vi phạm hành chính xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của mỗi quốc gia nhưng cũng là yêu cầu trong việc xây dựng chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật của quốc gia đó.
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, đã khẳng định “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [1]. Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật diễn ra liên tục trong cuộc sống hằng ngày của mỗi quốc gia, từ phạm vi nhỏ của một đơn vị hành chính cấp cơ sở đến phạm vi rộng lớn của một quốc gia, và hơn nữa là trên thế giới. Vi phạm hành chính diễn ra ở mọi góc độ, mọi khía cạnh của cuộc sống con 9 người từ nhỏ nhất, phạm vi ảnh hưởng ít nhất như bỏ rác không đúng nơi quy định, lấn làn đường, vượt đèn đỏ đến những khía cạnh lớn hơn, phạm vi ảnh hưởng rộng hơn như gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước, trốn thuế,… Mặc dù xét về bản chất thì mỗi vi phạm hành chính được đánh giá là gây thiệt hại không lớn, ít gây nguy hiểm cho xã hội, nhưng nếu đánh giá chung thiệt hại của tổng các vi phạm hành chính gây ra cho xã hội trong một giai đoạn nhất định thì hậu quả của chúng là vô cùng nặng nề và nguy hiểm, những hậu quả này có sức ảnh hưởng lớn đến cộng đồng xã hội, tác động mạnh đến trật tự quản lý của Nhà nước bởi những hành vi này được diễn ra thường xuyên, liên tục và do nhiều chủ thể gây ra. Để có cơ sở xử phạt vi phạm hành chính và đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính một cách hiệu quả, quyết liệt cần phải xác định chính xác các yếu tố, điều kiện cấu thành một vi phạm hành chính, xác định chính xác ranh giới giữa một hành vi được coi là vi phạm hành chính hay tội phạm, ranh giới giữa vi phạm và không vi phạm của một hành vi hành chính.
Việc xác định này bắt buộc phải dựa trên cơ sở khái niệm, đặc điểm của vi phạm hành chính. Có thể hiểu theo một cách đơn giản thì vi phạm hành chính là những hành vi không tuân theo hoặc làm trái với những quy định của pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước (bao gồm các hoạt động chỉ đạo, điều hành, chấp hành pháp luật, chính sách của một quốc gia). Vi phạm hành chính xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính của một quốc gia và là căn cứ để thực hiện hoạt động xử phạt hành chính. Ở nước ta, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 lần đầu ghi nhận khái niệm vi phạm hành chính, theo đó “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của 10 pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
Hội đồng bộ trưởng quy định các hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước trong phạm vi thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 2 của Pháp lệnh này”. Tuy nhiên, đến Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, không còn quy định cụ thể, riêng về vi phạm hành chính, mà khái niệm này được lồng ghép và vận dụng hiểu trong quy định về xử phạt hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác, theo đó, có thể hiểu vi phạm hành chính là “cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” (khoản 2 Điều 1) và “cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 21, 22, 23, 24 và 25 của Pháp lệnh này” (khoản 3 Điều 1). Khái niệm này tiếp tục được kế thừa cho đến khi Luật xử lý vi phạm hành chính ra đời năm 2012 [12]. Khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2013 quy định: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.
Hiện nay, việc sử dụng thuật ngữ “hành vi vi phạm hành chính” trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) cũng còn có những quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, việc sử dụng thuật ngữ “hành vi vi phạm hành chính” chưa thực sự chính xác về mặt khoa học, bởi vì, khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC đã định nghĩa: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi 11 phạm hành chính”. Trong luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ “vi phạm hành chính” để nói về “hành vi vi phạm hành chính”. Mặc dù trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, đã có những khái niệm khác nhau về vi phạm hành chính trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta.
Tuy nhiên, sự khác nhau chỉ thể hiện ở cách diễn đạt còn về bản chất của các dấu hiệu cấu thành vi phạm hành chính là thống nhất và đây cũng là đặc điểm của vi phạm hành chính. Trên cơ sở phân tích các khái niệm về vi phạm hành chính, có thể thấy có bốn yếu tố cấu thành một vi phạm hành chính, gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể. - Về mặt khách quan, vi phạm hành chính trước tiên phải là hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước, phá vỡ trật tự hành chính của quốc gia đang được duy trì và bảo vệ. Hành vi trái pháp luật này được thể hiện dưới dạng hành động (chủ thể thực hiện những hành vi bị các quy định pháp luật về trật tự quản lý nhà nước ngăn cấm) hoặc không hành động (chủ thể không thực hiện những hành vi mà pháp luật về trật tự quản lý hành chính bắt buộc chủ thể phải thực hiện).
Mặc dù tính nguy hiểm của vi phạm hành chính gây ra cho xã hội ít nguy hiểm hơn so với tội phạm nhưng việc xác định và xử phạt lại ảnh hưởng đến trật tự quản lý nhà nước nên việc xác định hành vi vi phạm là đặc biệt quan trọng. Nếu không có hành vi trái pháp luật của chủ thể thì không cấu thành vi phạm hành chính. - Về mặt chủ quan, vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi (lỗi cố ý hoặc vô ý). Lỗi cố ý thể hiện ở chỗ chủ thể nhận thức được tính chất nguy hại của hành vi, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng vẫn cố tình thực hiện và mong muốn điều đó xảy ra hoặc tuy 12 không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi vô ý thể hiện ở chỗ chủ thể không nhận thức được tính chất nguy hại của hành vi mặc dù có thể hoặc cần phải nhận thức được hoặc nhận thức được nhưng cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa. Một cá nhân không bị mắc các bệnh làm mất hoặc hạn chế khả năng điều khiển hành vi, ở một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật bắt buộc phải có khả năng nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm của một hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính đối với xã hội và họ có đủ khă năng điều khiển hành vi của mình để bảo đảm trật tự đó được duy trì, nếu họ xâm phạm đến trật tự đó thì bản thân họ phải tự chịu trách nhiệm về hành vi mà mình gây ra. Đối với tổ chức thì yếu tố lỗi thể hiện thông qua việc nhận thức và điều khiển hành vi của cá nhân người đại diện cho tổ chức đó. - Khách thể của vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng bị vi phạm hành chính xâm hại, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại.
Khách thể chính là dấu hiệu để nhận biết: Vi phạm hành chính là hành vi xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ [15]. - Về chủ thể của vi phạm hành chính là cá nhân hoặc tổ chức có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính. Khái niệm, đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính 1.1 Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời Dân chủ Cộng hoà đã quan tâm, chú trọng việc bảo đảm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, xử phạt vi phạm hành chính đã sơ khai ra đời thông qua các khái niệm như phạt tiền [3].