CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 1.1 Tổng quan về thuế 1.1 Khái niệm về thuế Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuỳ thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm khác nhau về thuế. Theo các tác giả cuốn Giáo trình thuế của Học viện Tài chính: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”. Trong cuốn “Kinh tế công cộng”, nhà kinh tế học Joseph E.Stiglitz đã cho rằng “Các cá nhân cung cấp trực tiếp các dịch vụ cho chủ thái ấp, đây là thuế nhưng chưa được tiền tệ hoá”.
Trong cuốn “Tài chính công”, G.Jege đã cho rằng: “Thuế là một khoản bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp cho các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi phí của nhà nước”. Theo từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển học - 1998): “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hay tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp. buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định”. Có thể thấy ở các quan niệm trên đây, tuy cách diễn đạt khác nhau song đều thống nhất những nội dung chính của thuế là: - Thuế là biện pháp động viên của nhà nước mang tính chất bắt buộc đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước.
- Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc mọi tổ chức và thành viên trong xã hội phải nộp vào ngân sách nhà nước. ---------------------------------------------------------------------------------------------- Vũ Thị Thuý 3 Lớp Cao học QTKD 2010-2012 Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Trường Đại học Bách khoa Hà nội ---------------------------------------------------------------------------------------------- - Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vực công nhằm trang trải những chi phí nuôi sống bộ máy nhà nước và trang trải các chi phí công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng. - Thuế là một hình thức phân phối thu nhập được nhà nước sử dụng để động viên một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào ngân sách nhà nước. Từ những phân tích trên đây, có thể nhận thức một cách toàn diện về thuế như sau: Thuế là một hình thức động viên bắt buộc của nhà nước nhằm tập trung một phần nguồn lực từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước trong từng giai đoạn phát triển.2 Đặc điểm cơ bản của thuế Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế.
Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế và các công cụ tài chính khác. Những đặc trưng đó là: - Tính bắt buộc: Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước. Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph E.Stinglitz cho rằng: “Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia. Trong khi các khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc”.
- Tính không hoàn trả trực tiếp: Thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không được hoặc ít được sử dụng các dịch vụ công cộng.
Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi được thừa hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số ---------------------------------------------------------------------------------------------- Vũ Thị Thuý 4 Lớp Cao học QTKD 2010-2012 Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Trường Đại học Bách khoa Hà nội ---------------------------------------------------------------------------------------------- thuế mà họ phải trả và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này. - Tính pháp lý cao: Đặc điểm n ày thể hiện thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao. Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước. Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội.
Vì vậy, để bắt buộc các công dân “tự nguyện” nộp thuế thì nhà nước phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật. Tuy nhiên, để sự chuyển giao bắt buộc thông qua thuế diễn ra được “êm thấm”, mặc dù quá trình đó được thực hiện dưới sự bảo vệ của pháp luật, thì những quy luật của pháp luật cũng không được mang tính tuỳ tiện mà dựa trên những cơ sở khoa học nhất định. Vì vậy trong luật thuế thường xác định trước các yếu tố có tính chất điều chỉnh hành vi nộp thuế, đối tượng chịu thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng chế khác. - Thuế chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định: Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, th ị trường, sự biến động của ngân sách nhà nước.
Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế chính trị của nhà nước, tâm lý tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hoá, xã hội của dân tộc. Do thuế chịu sự ràng buộc các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội như vậy n ên người ta thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp. - Thuế được giới hạn trong biên giới quốc gia với quyền lực của Nhà nước đối với con người và tài sản. ---------------------------------------------------------------------------------------------- Vũ Thị Thuý 5 Lớp Cao học QTKD 2010-2012 Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Trường Đại học Bách khoa Hà nội ---------------------------------------------------------------------------------------------- 1.3 Vai trò thuế trong nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước, thuế có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường ở nước ta được thể hiện trên các khía cạnh sau: 1.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Thuế là nguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia. Đối với nền kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Thuế phải bao quát được hầu hết các hoạt động kinh doanh, các nguồn thu nhập trong xã hội.
Về bản chất, thu ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các tầng lớp dân cư trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thoả mãn nhu cầu chi tiêu của mình. Nhìn chung các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, để huy động các nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, vai trò quan trọng thuộc về thuế. Sử dụng công cụ thuế để huy động sự đóng góp có ưu điểm: - Thuế là một công cụ phân phối có phạm vi rộng lớn, bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực. Do vậy, thuế đảm bảo nguồn thu lớn, ổn định và thường xuyên cho ngân sách Nhà nước.
- Phương thức huy động tập trung nguồn lực của thuế sử dụng phương pháp chuyển giao thu nhập bắt buộc. Do vậy, Nhà nước đảm bảo thực hiện sự công bằng trong việc phân bổ gánh nặng của khoản chi tiêu công cộng. - Nguồn thu cho NSNN chỉ có thể tăng nhiều và nhanh trên cơ sở nền kinh tế có sự tăng trưởng và đạt hiệu quả cao, đồng thời với ý thức triệt để tiết kiệm của mọi người dân trong cả sản xuất và tiêu dùng. Thuế kết hợp giữa phương thức bắt buộc được quy định dưới hình thức pháp luật cao với kích thích vật chất đ ã tạo ra sự ---------------------------------------------------------------------------------------------- Vũ Thị Thuý 6 Lớp Cao học QTKD 2010-2012 Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh - Trường Đại học Bách khoa Hà nội ---------------------------------------------------------------------------------------------- quan tâm của các chủ thể kinh tế đến chất lượng và hiệu quả kinh doanh.
Trên cơ sở đó, thuế đã góp phần tích cực vào nuôi dưỡng và khai thác nguồn thu ngày càng tăng cho ngân sách Nhà nước.2 Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng những khuyết tật vốn có của nó như chênh lệch giàu nghèo, mất công bằng, thiếu ổn định, lạm phát. Để khắc phục những khuyết tật đó, nhà nước cần phải có sự can thiệp vào nền kinh tế, Nhà nước sử dụng các biện pháp hành chính mang tính cưỡng chế và sử dụng hàng loạt các công cụ kinh tế, đặc biệt là công cụ thuế. Cùng với việc mở rộng chức năng của nhà nước, thuế trở thành một công cụ quan trọng để thực hiện điều tiết nền kinh tế quốc dân. Thông qua việc xây dựng đúng đắn cơ cấu và mối quan hệ giữa các loại sắc thuế, việc xác định hợp lý người nộp thuế, đối tượng đánh thuế, mức thuế suất, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thuế dựa trên cơ sở hạch toán kế toán đầy đủ, chính xác, thuế là công cụ điều tiết đối với thu nhập của các tầng lớp xã hội, thể hiện trên hai mặt đó là: khuyến khích, hỗ trợ những hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết làm ăn có hiệu quả; đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, lĩnh vực, mặt hàng cần hạn chế sản xuất, tiêu dùng theo hướng tiết kiệm, chống lãng phí.