CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1.1 Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.1 Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân Trước khi xem xét về thuế TNDN, chúng ta có thế tìm hiểu thêm một số vấn đề chung về thế cũng như nguông gốc ra đời của thuế. Thuế ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển của nhà nước, từng bước hoàn thiện vai trò và chức năng của nhà nước đối với nền kinh tế. Do đó thuế ra đời với tư cách là một công cụ tài chính để tạo lập nguồn thu nhằm duy trì hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước. Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân đối với Nhà nước, thuế do nhà nước đạt ra và được pháp luật quy định.
Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ban hành ngày 26/11/2014 được hiểu: “Doanh nghiệp là là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [7] Doanh nghiệp ngoài quốc doanh được hiểu là các loại hình doanh nghiệp không có sở hữu của Nhà nước, trừ Hợp tác xã. Toàn bộ vốn, lợi nhuận của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ sở hữu chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước mà không chịu bất cứ sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý [7] Theo E.RA Seligman “Thuế là sự đóng góp cưỡng bức mỗi người cho chính phủ để trang trải các chi phí vì quyền lợi chung, không căn cứ vào các quyền lợi riêng được hưởng” [9]. 4 Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau: Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu. Tính chất trực thu của loại thuế này được biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế, không có sự chuyển giao gánh nặng về thuế từ người nộp thuế sang người chịu thuế, vì vậy đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là người chịu thuế.
Về thực chất thuế TNDN đánh vào lợi nhuận của các cơ sở kinh doanh. Bởi vậy mức động viên của NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp. Thuế TNDN chỉ đánh vào phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các chi phí khác liên quan tạo ra khoản thu nhập đó. Thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư.
Thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp [30] Về phân bố: các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có xu hướng tập trung ở thành thị phát triển hơn ở nông thôn, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh,.còn ở các nơi khác nhìn chung phần nhiều là các doanh nghiệp nhỏ, lao động và vốn eo hẹp. Về quy mô hoạt động, phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là do chủ sở hữu tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý nên thường có quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất tuy đã được quan tâm nhưng nhìn chung vẫn còn lạc hậu, trình độ quản lý đã có bước tiến bộ nhưng vẫn còn thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới. Quy mô hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường nhỏ hơn nhiều so với quy mô đầu tư của các doanh nghiệp do Nhà nước cấp vốn. Đây cũng chính là một thách thức lớn trong quá trình phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế [30].
Về lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia hoạt động kinh 5 doanh trên rất nhiều lĩnh vực nhưng tập trung vào một số ngành đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu thấp, thị trường tiêu thụ rộng khắp và ít chịu sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp lớn như lĩnh vực khai thác đá sỏi, lĩnh vực xây dựng cơ bản với các mặt hàng vật liệu xây dựng như gạch, ngói, gốm sứ, lĩnh vực giao thông vận tải, lĩnh vực kinh doanh. Về ý thức tuân thủ pháp luật, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn chưa nghiêm túc, tỉ lệ vi phạm các quy định pháp luật còn rất cao. Điều này xuất phát từ mục đích cao nhất của hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận nên nhiều doanh nghiệp bằng mọi biện pháp và hình thức khác nhau, bất chấp các thủ đoạn kể cả hành vi gian lận, trốn, lậu thuế để kiếm lời bất hợp pháp. Qua quá trình nghiên cứu cho thấy nhiều quan hệ kinh tế không được ký kết bằng văn bản và trong trường hợp ký kết bằng văn bản thì thời gian, phương thức thực hiện không theo nội dung trong văn bản.
Việc quản lý thuế TNDN đối với các giao dịch này rất phức tạp, để xác định doanh thu tính thuế TNDN là rất khó khăn [30].2 Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân Thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lãnh thổ thông qua các quy định về ưu đãi thuế, các yếu tố kỹ thuật trong tính thuế, quản lý thuế, đã đem lại số thu cho ngân sách nhà nước hàng năm. Thuế thu nhập doanh nghiêp là công cụ quan trọng và hiệu quả trong việc bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Thuế TNDN là công cụ hữu hiệu để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo một cơ cấu kinh tế hợp lý theo ngành và theo địa bàn; Thuế TNDN góp phần thực hiện công bằng xã hội. Nhà nước đã ban hành một hệ thống pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển [11],[21].
Thuế thu nhập doanh nghiệp thu trên thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi những chi phí để tạo ra thu nhập trong mỗi kỳ tính thuế, số thuế cao hay thấp tác động 6 trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, việc tính thuế cần dựa vào các chuẩn mực kế toán, gắn với các quy chế quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp. Mặt khác doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có vai trò lớn trong việc ổn định nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có khả năng thu hút vốn trong xã hội nhanh, làm tăng nhanh nguồn thu cho ngân sách nhà nước [30]. Vì vậy, thuế thu nhập doanh nghiệp có ý nghĩa như một công cụ giúp doanh nghiệp tăng cường công tác quản lý nội bộ cũng như xác định chiến lược kinh doanh trong từng thời kỳ [30] Là khu vực góp phần ngày càng quan trọng vào sự tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP). Cho đến nay, mặc dù vẫn chịu nhiều rào cản, nhiều đối xử bất công và nhũng nhiễu của công chức tiêu cực, kinh tế NQD đã trở thành lực lượng chủ công trong nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế, trong tất cả các ngành, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ thương nghiệp nội địa đến xuất nhập khẩu.
Vị trí của kinh tế NQD mỗi năm được tăng lên trong đầu tư phát triển cũng như trong tăng trưởng đã trở thành xu thế tất yếu của nền kinh tế Việt Nam, không chỉ hiện nay mà có ý nghĩa quyết định cả trong tương lai [11] Là lực lượng chủ yếu thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế phát triển đa dạng, cả công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá, theo yêu cầu của thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Là nơi đảm bảo đại đa số chỗ làm việc cho người lao động, là lực lượng to lớn nhất trong các hoạt động xã hội, từ thiện, xoá đói giảm nghèo, giảm bớt chênh lệch giàu nghèo trong xã hội. Trên thực tế, nơi giải quyết việc làm chủ yếu và quyết định nhất cho số người đến tuổi lao động dôi dư từ các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại vẫn phải dựa vào kinh tế dân doanh [27] Cũng chính khu vực kinh tế dân doanh là nơi đang hình thành một lớp người mới, một tầng lớp xã hội mới, đó là doanh nhân. Đó chính là những người lính xung kích thời bình được xã hội công nhận.
Họ có đủ dũng cảm đưa tài sản, vốn liếng ra kinh doanh 7 trong một môi trường chưa đủ thông thoáng, còn nhiều rủi ro; khá nhiều người trong họ đang trở thành nhà quản lý tài năng, nắm được tri thức hiện đại về quản lý và công nghệ để bảo đảm và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của từng sản phẩm hàng hoá cũng như hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp dân doanh trong sóng gió của kinh tế thị trường [11] Như vậy, với sự năng động và nhạy bén của mình, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã trở thành nhân tố chủ yếu thúc đẩy sức cạnh tranh của nền kinh tế, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội vào quá trình sản xuất, kinh doanh, tăng nguồn thu cho NSNN, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Hơn nữa, cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh về số lượng lẫn chất lượng đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN [4].2 Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.