CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE KIEM SOÁT NOI BỘ TRONG KHU VỰC CONG, LỆ PHI TRƯỚC BA VÀ CÔNG TÁC KIEM SOÁT THU LỆ PHÍ TRƯỚC BẠ TẠI CHI CỤC THUÉ 1. TONG QUAN VE KIEM SOÁT NỘI BỘ TRONG KHU VỰC CÔNG 1. Khái quát chung về kiểm soát nội bộ Theo COSO (2013), KSNB được định nghĩa như sau: “KSNB là một tiến trình được thiết lập và vận hành bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế dé đem lại một sự bảo đảm hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo và tuân thủ với các luật và quy định liên quan”. Ba mục tiêu cần đạt được: hoạt động của đơn vị hiệu quả và hữu hiệu; báo cáo tài chính đáng tin cậy và tuân thủ các quy định của đơn vị, luật lệ hiện hành.
Theo Đường Nguyễn Hung (2016): KSNB được thiết lập nhằm giúp tô chức đạt được các mục tiêu của mình và hạn chế các van đề gây bat lợi cho tổ chức. KSNB giúp cho nhà quản lý thích ứng với môi trường bên ngoài và bên trong tô chức thường xuyên biến đổi nhanh chóng. Vai trò của KSNB thúc đây các tô chức thiết lập các hệ thống KSNB hữu hiệu. Bản chất của KSNB chính là biện pháp đối phó với các rủi ro đối với việc thực hiện các mục tiêu của các hoạt động của tổ chức.
Mục tiêu của KSNB được đặt ra là đối phó với các rủi ro đối với việc thực hiện các mục tiêu của các hoạt động, cho nên mục tiêu của KSNB cũng phù hợp với các mục tiêu của hoạt động. Hệ thống KSNB được thiết lập sẽ hỗ trợ cho tổ chức dat được các mục tiêu của mình. Một hệ thống KSNB là một tập hợp các thành phần khác nhau, có chức năng khác nhau, liên kết chặt chẽ với nhau, cùng thực hiện mục tiêu đối phó với các rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu của tổ chức nhằm hỗ trợ cho tô chức đạt được các mục tiêu của mình. Theo COSO, một hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm năm thành phần như sau: - Môi trường kiểm soát (control environment) Môi trường kiểm soát là tập hợp các chuẩn mực, quy trình, cấu trúc thiết lập cơ sở cho sự vận hành của KSNB trong tổ chức.
Chính môi trường kiểm soát làm nền tảng cho các thành phần khác của hệ thống KSNB. Môi trường kiểm soát bao gồm các yếu tố: tính chính trực và các giá trị đạo đức; cam kết về năng lực; sự tham gia của ban quản trị; triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý; cơ cấu tổ chức; phân công quyên hạn và trách nhiệm; chính sách nhân sự. Liên quan đến môi trường kiểm soát có năm nguyên tắc sau: + Tổ chức thực hiện cam kết với tính chính trực và các giá trị đạo đức; + Hội đồng quản trị thể hiện cam kết độc lập đối với ban quản lý và thực hiện chức năng giám sát đối với sự phát triển và vận hành của KSNB; + Dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị, ban quản lý thiết lập cơ cầu tổ chức, các tuyến báo cáo, quyền hạn và trách nhiệm phù hợp hướng đến việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức; + Tổ chức thể hiện cam kết đối với việc thu hút, phát triển và lưu giữ nhân sự có năng lực; + Tổ chức quy trách nhiệm cho cá nhân về việc thực hiện các trách nhiệm KSNB. - Danh gia rui ro (risk assessment) Đánh giá rủi ro là một tiến trình linh hoạt, lặp đi lặp lại nhận diện và phân tích các rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Đề thiết lập đầy đủ thành phần đánh giá rủi ro, tổ chức cần thực hiện bốn nguyên tắc sau: + Tổ chức xác định các mục tiêu một cách rõ ràng để bảo đảm thực hiện nhận diện và đánh giá các rủi ro đối với việc thực hiện các mục tiêu; + Tô chức nhận diện các rủi ro đôi với việc đạt được các mục tiêu và phân tích các rủi ro để làm cơ sở cho việc đối phó với rủi ro; + Tổ chức xem xét khả năng của gian lận trong quá trình đánh giá rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu; + Tổ chức nhận diện và đánh giá các thay đồi từ môi trường bên ngoài và bên trong tô chức mà có thể ảnh hưởng đáng kê đến các rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu. - Hoạt động kiêm soát (contronl activities) Hoạt động kiểm soát là các hành động được thiết lập bởi các chính sách và thủ tục để bảo đảm cho các chỉ thị của nhà quản lý về việc đối phó với các rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu được thực hiện. Thành phần hoạt động kiểm soát đòi hỏi tổ chức cần thực hiện 3 nguyên tắc sau: + Tổ chức lựa chọn, phát triển các hoạt động kiểm soát đối phó với các rủi ro đối với việc đạt được mục tiêu ở các mức rủi ro có thé chấp nhận được; + Tổ chức lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát đối phó với các rủi ro đối với việc áp dung và vận hành công nghệ thông tin trong tô chức; + Tổ chức thiết lập các hoạt động kiểm soát thông qua các chính sách và các thủ tục thực thi các chính sách. - Thông tin và trao đổi thông tin (information and communication) Thông tin là đầu vào cần thiết để tổ chức thực hiện các trách nhiệm KSNB hướng đến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Trao đồi thông tin diễn ra cả bên trong tổ chức và giữa tổ chức với bên ngoài dé cung cấp các thông tin hỗ trợ cho việc thực hiện các trách nhiệm KSNB. Các nguyên tắc thực hiện thành phần thông tin và trao đổi thông tin gồm có 3 nguyên tắc sau: + Tổ chức thu thập hoặc tạo lập và sử dụng các thông tin chất lượng, phù hợp để phục vụ sự vận hành của các thành phần khác của hệ thống KSNB; + Tổ chức trao đổi thông tin trong nội bộ bao gồm các mục tiêu và các trách nhiệm KSNB cần thiết đề hỗ trợ sự vận hành của các thành phần khác của hệ thống KSNB; + Tổ chức trao đồi thông tin với bên ngoài tổ chức liên quan đến các vấn đề có ảnh hưởng đến sự vận hành của các thành phần khác của hệ thống KSNB. - Hoạt động giám sát (monitoring activities) Hoạt động giám sát bao gồm các đánh giá thường xuyên, đánh giá chuyên biệt hoặc sự kết hợp cả hai hình thức được thực hiện để xem xét các thành phần của hệ thống KSNB có đang hiện diện và đang vận hành hay không. Hoạt động giám sát được thực hiện qua hai nguyên tắc sau: + Tổ chức lựa chọn, phát triển, thực hiện các đánh giá thường xuyên, đánh giá chuyên biệt để xem xét xem các thành phần của hệ thống KSNB có đang hiện diện và đang vận hành hay không; + Tổ chức đánh giá và báo cáo về các điểm yếu của KSNB một cách kịp thời cho cấp có thẩm quyền như ban quản lý, hội đồng quản trị để thực hiện các hành động khắc phục yếu kém.
Về mặt bản chất, định nghĩa do COSO đưa ra có thé áp dụng với tất cả mọi loại hình tổ chức, trong đó có các đơn vị công. Tuy nhiên, các đơn vị công có các đặc điểm, đặc thù riêng. Những đơn vị này bên cạnh thực hiện theo các lĩnh vực thông thường thì vẫn phải đảm nhiệm nhiều dự án, kế hoạch do nhà nước giao phó theo chức năng, nhiệm vụ được phân công cho đơn vị đó. Vì vậy, trên thế giới xuất hiện một nhu cầu đó là khái niệm KSNB đã được thay đổi cho phù hợp với những đơn vị công.
Hệ thống kiểm soát nội bộ ở trong khu vực công a, Lich sử phát triển hệ thông kiếm soát nội bộ trong khu vực công Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng Kế toán Nhà nước Hoa Kỳ (GAO) năm 1999 đã dé cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp. GAO đưa ra năm yếu t6 về KSNB bao gồm các quy định về môi trường kiểm soát, đánh giá giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. 10 INTOSAI (The International Organiztion of Superme Audit Insitutions) —Té chức quốc tế các co quan kiểm toán tối cao được thành lập từ năm 1953 nhằm mục đích tạo điều kiện cho việc trao đổi các quan điểm và kinh nghiệm giữa các Cơ quan kiểm toán tối cao về công tác kiểm toán nhà nước. Việt Nam là thành viên chính thức của tô chức INTOSAI từ tháng 7/1996.
Năm 2001, bản hướng dẫn của INTOSAI (1992) đã cập nhật các chuân mực KSNB cho phù hợp với tất cả các đối tượng và phù hợp với sự phát triển của KSNB, bên cạnh việc hoàn chỉnh định nghĩa KSNB và xây dựng một sự hiểu biết chung về KSNB, tài liệu của INTOSAI còn trình bày những vấn dé đặc thù về khu vực công. Khái niệm về kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 2004 Theo tổ chức INTOSAI (2004) đã dé cập đến trong Báo cáo “INTOSAI GOV 9100 Guidelines Public Sector Internal Control Standards” định nghĩa về KSNB như sau: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi nhà quan lý và các nhân viên đơn vị, nó được thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu chung của tô chức”. Bốn mục tiêu cần đạt được: thực hiện các hoạt động có trật tự, tiết kiệm, hữu hiệu và hiệu quả; thực hiện các hoạt động hướng đến trách nhiệm giải trình; tuân thủ luật pháp và các quy định hiện hành; bảo vệ các nguồn lực trong đơn vi, chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tôn thất. Qua việc tìm hiểu hai định nghĩa về KSNB do hai tổ chức COSO và INTOSAI ban hành, có thé thay rằng trong khu vực tư hay khu vực công thì KSNB luôn hướng vào hai mục tiêu chung đó là hoạt động hiệu quả, hữu hiệu và tuân thủ các quy định.
Tuy nhiên trong khu vực công thì INTOSAI còn nhấn mạnh đến hai đặc điểm riêng có trong đơn vị công đó là quản lý tài sản nhà nước hiệu quả và nâng cao trách nhiệm giải trình. Điều này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của chuẩn mực kế toán công quốc tế mà các đơn vị công dang hướng đến hài hòa khi áp dụng. So với định nghĩa của báo cáo COSO, khía ll cạnh giá trị dao đức trong hoạt động được thêm vào và nhấn mạnh.