CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ KIỀM SOÁT THUÊ THU NHẬP. DOANH NGHIỆP DO CÁC CHI CỤC THUÊ THỰC HIỆN 1. LY LUAN VE KIEM SOÁT 1.1, Kiém soát trong quản lý Hoạt động kiểm soát là hoạt động cần thiết trong tat cả các lĩnh vực. Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lý, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm tra, kiểm soát.
Do đi ìm hiểu được khái niệm về kiểm soát chúng, ta cần phải tìm hiểu về quản lý. Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất. trình này bao gồm nhiều chức năng và có thé chia thành nhiều giai đoạn ở giai đoạn định hướng cần có những dự báo về nguồn lực và mục tiêu cần vả có thể đạt tới, kiểm tra lại các thông tin về nguồn lực và mục tiêu, xây dựng các chương trình, kế hoạch. Sau khi các chương trình, kế hoạch đã được kiểm tra có thể đưa ra các quyết định cụ thể để tổ chức thực hiện, ở giai đoạn tổ chức thực hiện, cần kết hợp các nguồn lực theo phương án tối ưu, đồng thời thường xuyên kiểm tra diễn biển và kết quả của các quá trình để điều hoà các mỗi quan hệ, điều chỉnh các định mức và mục tiêu trên quan điểm tối ưu hoá kết quả hoạt động (Nguyễn Quang Quynh, 2008) 'Về phân cắp quản lý, có nhiều cấp quản lý khác nhau song chung nhất thường là phân thành quản lý vĩ mô và quản lý vi mô.
Dĩ nhiên trong nhiều trường hợp, giữa hai cắp quản lý cơ bản nói trên còn có cắp quản lý trung gian vừa chịu sự quản lý vĩ mô của cắp trên, vừa thực hiện chức năng quản lý đối với các đơn vị cấp dưới. Trong mọi trường hợp để bảo đảm hiệu quả hoạt động, tất yếu mỗi đơn vị cơ sở đều tự kiểm tra mọi hoạt động của mình trong. tat cả các khâu: rà soát các tiềm năng, xem xét lại các dự báo, các mục tiêu và định mức, đối chiếu và truy tìm các thông số về sự kết hợp, soát xét lại các thông tin thực hiện để điều chỉnh kịp thời trên quan điểm bảo đảm hiệu năng. của mọi nguồn lực và hiệu quả kinh tế cuối cùng của các hoạt động.
tự, cấp trên cũng phải rà soát lại chính sách, mục tiêu và hoạt động trong. phạm vĩ quản lý của mình. Công việc rà soát này gọi chung là kiểm soát; Một cách chung nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp những phương pháp để nắm. lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý.
Với ý nghĩa đó kiểm soát có thể hiểu theo nhiều chiều; cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua chính sách hoặc biện pháp cụ thể, đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua việc chỉ phối đáng kể về quyền sở hữu và lợi ích tương ứng; nội bộ đơn vị kiểm. soát lẫn nhau thông qua quy chế và thủ tục quản lý. (Nguyễn Quang Quynh, 2008) "ĐỂ tiến hành kiểm soát cẳn phải tuân thủ các bước cơ bản sau: Thứ nhất, phải tiến hành xây dựng những quy định dựa trên cơ sở của những mục tiêu quản lý. Thứ hai, phải kiểm tra, đo lường, ghi chép thông tin về việc thực hiện theo những quy định đã xây dựng.
Ở bước này, người quản lý tiếp nhận những thông tin về đối tượng quản lý. "Thứ ba, dựa trên những thông tin thu thập được ở bước hai, nhà quản lý đánh giá, điều chỉnh các sai lệch trong việc thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra. -M6i quan hệ giữa kiểm soát và quá trình quản lý Chức năng của kiểm soát chủ yêu là xem xét tính hiệu quả của các hoạt động thực hiện mà nhờ đó các chiến lược được thực hiện để đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Hệ thống tiêu chuẩn pháp lý và kỹ thuật của hoạt động kiểm.
soát, đó là những chuẩn mực mà người ta dùng để đối chiếu, xem xét kết quả. hay quá trình làm việc. Để đánh giá, đo lường mức độ thục hiện công việc, người ta thiết lập nhiều dạng tiêu chuẩn khác nhau căn cứ vào chất lượng và số lượng công việc, căn cứ vào đánh giá của các chuyên gia hay của các cơ cquan thanh tra, kiểm tra, cho phép phát hiện những sai lệch trong quá trình tác nghiệp, từ đó có thể kịp thời đưa ra những biện pháp chắn chỉnh nhằm đạt được mục tiêu, định hướng đã đề ra. 'Kiểm soát là hệ thống phản hồi các thông tin đánh giá kết quả của quá.
trình thực thi nhiệm vụ đã đề ra với những người quản lý, để các nha quan ly có những điều chỉnh cần thiết cho quá trình tác nghiệp, tuân thủ theo ý chí của. mình hay mục tiêu của hệ thống. Tuy nhiên, việc phán hồi này thực sự có hiệu quả hay không, nhiều khi còn phụ thuộc vào thời gian mà các thông tỉn tới được nhà quản lý và hành “Trong hoạt động của một đơn vị nói riêng hay hoạt động của nhà nước nói chung, kiểm soát được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi tổ chức, mọi đơn vị. Mặc dù quy mô và phương pháp kiểm soát phụ thuộc vào từng chiến lược, từng con người cụ thể, song các chiến lược này có quan hệ lẫn nhau, làm tiền để cho nhau đạt được mục đích đã đặt ra.
Kiểm soát trước hết là thông qua việc đối chiếu với hệ thống quy phạm tiêu chuẩn tác nghiệp, tiến đến là quy. trình tác nghiệp, đánh giá mức độ khả thỉ của quy trình, thứ hai là sự kiểm soát của các chức danh có nhiệm vụ kiểm soát trên một công đoạn nào đó của dây chuyển tác nghiệp. ằm soát quản lý đó là việc thực hiện đối chiều kết quả đạt được với những quy định chung, với kế hoạch để đánh giá, điều chỉnh làm cho quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách hiệu quả, hiệu lực hơn, nhằm đạt được mục tiêu định trước (Nguyễn Thị Thu Lương, 2015) 1. Kiém soat thué Để duy toạt động của mình Nhà nước có những nhu cầu chỉ tiêu mang tính chất xã hội.
Do vậy, Nhà nước phải dùng quyển lực chính trị vốn có của mình để thực hiện thu một phần của cải của xã hội nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của mình. Để đảm bảo sự công bằng về mức độ đóng góp của cải xã hội của các đối tượng trong nền kinh tế, Nhà nước phải có cách thức tổ chức kiểm soát để quản lý nguồn thu từ đó hình thành nên bộ. máy thực hiện chức năng kiểm soát thu. Trong kiểm soát nguồn thu NSNN, các chuẩn mực của việc kiểm soát đó là hệ thống chính sách, pháp luật về thuế, phí, chế độ kế toán.
trong đó kiểm soát thuế là chức năng cơ bản để kiểm soát nguồn thu NSNN. Kiểm soát thuế là chức năng quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế. Đó là kiểm tra, giám sát việc tuân (hủ pháp luật thud inh sách thuế của ĐTNT và các quy trình QLT của cán bộ, công chức thuế nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ và thu kịp thời tiền thuế vào NSNN, đồng thời nâng cao ý thức tự giác chấp hành chính sách, pháp luật thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho. ĐTNT trong việc kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ thuế.
Nội dung kiếm soát thuế ngày càng được sửa đổi bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với tình hình. phát triển kinh tế xã hội và chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước. Mục tiêu của kiểm soát thị im dam bao mọi đối tượng tuân thủ pháp luật thuế và tạo điều kiện thuận lợi đẻ phát triển sản xuất, tăng trưởng nền kinh tế. 'Nhà nước cần có chính sách thuế phù hợp để vừa đáp ứng nguồn thu NSNN.
vừa tác động đến ĐTNT nhằm thúc đây sản xuất kinh doanh phát triển, tạo. nguồn thu bên ving, Để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong từng giai đoạn, đặc biệt là trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, hệ thống QLT Việt Nam đang, chuyển dần từ mô hình quản lý theo đối tượng sang mô hình quản lý theo 10 chức năng với cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp theo cơ chế này tính chủ động. của các ĐTNT được phát huy và việc kiểm soát thuế cũng phải thay đổi cho phù hợp. Cơ chế kiểm soát thuế Việt Nam đang được chuyển dần từ cơ chế tiền kiểm sang cơ chế hậu kiểm, việc kiểm soát thuế được thực hiện trong tit cả các khâu của quá trình quản lý thuế theo mô hình chức năng từ khâu kê khai đăng ký thuế, kiểm tra thuế đến quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế và xử lý vi phạm pháp luật thuế.
Vai trỏ và sự cần thiết của kiểm soái thuế 'Để hệ thống pháp luật thuế phát huy hiệu quả, chính sách thuế bao quát hết nguồn thu, đảm bảo tính công bằng xã hội, minh bạch, chính xác, đơn giản, đễ thực hiện và phù hợp với thông lệ qt thì công tác kiểm soát thuế. là việc cần làm thường xuyên, liên tục của CQT các cấp. Kiểm soát thuế đóng. một vai trò khá quan trọng trong quá trình quản lý thuế và trong việc Nhà nước thực hiện chức năng quán lý của mình xuất phát từ những lý do sau Thứ nhất, thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN nhằm đáp ứng các nhu cầu chỉ tiêu Chính phủ trong quá trình thực hiện các chức năng cơ bản của mình, để kiếm soát được nguồn thu quan trọng này Nhà nước phải tăng cường, công tác kiểm soát thuế, xây dựng nguồn thu chủ động trong nội tại nền kinh tế Thứ hai, thông qua kiểm soát thuế, Nhà nước điều chỉnh chính sách, pháp luật thuế phù hợp với từng ĐTNT và mục tiêu phát triển của xã hội trong từng giai đoạn, giúp cho Nhà nước nắm tình hình sản xuất kinh doanh của từng loại hình DN, từng lĩnh vực kinh doanh của ĐTNT; giám sát tỉnh hình chấp hành chính sách, pháp luật thuế và tiếp nhận những thông tin về sự phù hợp của chính sách thuế với tình hình thực tiễn của nền kinh tế xã hội, từ đó có những điều chính kịp thời nhằm khuyến khích sản xuất, khai thác và duy tri ôn định nguồn thu lâu dài, đồng thời đảm bảo mục tiêu phát triển kinh 16 trong từng giai đoạn.
“Thứ ba, kiểm soát thuế nhằm tăng cường pháp chế, thông qua kiểm soát thuế Nhà nước và ĐTNT thực hiện điều chỉnh kịp thời những sai lệch, vì phạm trong quá trình thực hiện chính sách pháp luật, tạo điều kiện hình thành. ý thức tự giác tuân thủ pháp luật của NNT.