Chương I: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương II: Những vấn đề chung về phân tích thông tin kế toán phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Chương III: Thực trạng việc phân tích thông tin kế toán phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở Chi cục Thuế huyện Thanh Trì. Chương IV: Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế huyện Thanh Trì. 8 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH THÔNG TIN KẾ TOÁN PHỤC VỤ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 2.
Lý luận chung về thông tin kế toán 2. Khái niệm thông tin kế toán Thông tin là ý nghĩa được rút ra từ dữ liệu thông qua quá trình xử lý, phù hợp với mục đích cụ thể của người sử dụng. Thông tin có thể gồm nhiều giá trị dữ liệu, được tổ chức để biểu đạt ý nghĩa cho một đối tượng cụ thể, trong một ngữ cảnh cụ thể. Thông tin kế toán của DN là thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính, phản ánh được kết quả, hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của DN.
Về đặc điểm thông tin kế toán là thông tin hiện thực về những hoạt động kinh tế đã diễn ra và có độ tin cậy khá cao, là thông tin có giá trị về mặt pháp lý được các cơ quan chức năng sử dụng để quản lý.1 Hinh thức biểu hiện của thông tin kế toán: kế toán sử dụng các thước đo giá trị, thước đo hiện vật và thước đo thời gian. Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là thước đo giá trị. Đối với kế toán tài chính thì cung cấp các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu phục vụ cho các đối tượng bên ngoài nên cần có giá trị pháp lý cao và theo khuôn mẫu nhất định về mặt trình bày, hình thức biểu hiện và thời gian; ngược lại, kế toán quản trị chủ yếu cung cấp thông tin cho chủ DN trong việc ứng xử và ra các quyết định kinh doanh, không mang tính chất bắt buộc nên có hình thức biểu hiện và báo cáo tức thì theo yêu cầu. Hơn nữa, kế toán quản trị sử dụng các số liệu quá khứ để từ đó định hướng dự báo tương lai, nên khuôn mẫu báo cáo cũng đa dạng nhằm mục tiêu đáp ứng được yêu 1 Thạc sỹ Cao Xuân Hợp-tạp chí kế toán và kiểm toán 9 cầu cung cấp thông tin của chủ DN.
Vai trò của thông tin kế toán Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế mà lợi ích của tổ chức đó có liên quan đến nhiều đối tượng: Từ người chủ sở hữu, người quản lý tại đơn vị đến các đối tượng bên ngoài, như: Nhà nước, các tổ chức tài chính, nhà đầu tư, người bán, người mua, các tổ chức và cá nhân khác. Mỗi đối tượng trên có những nhu cầu thông tin riêng xuất phát từ những lợi ích riêng đó của mỗi tổ chức. Có thể thấy vai trò này thể hiện qua hai nhóm đối tượng là các nhà quản lý ở DN và các đối tượng khác bên ngoài DN. - Đối với các nhà quản lý ở DN: Do DN có tính tự chủ trong việc sử dụng các nguồn lực của mình nên người quản lý DN cần có thông tin để hoạch định, tổ chức và kiểm soát toàn bộ tài sản và hoạt động kinh doanh của mình.
Những vấn đề như: Tình hình các loại tài sản của đơn vị như thế nào? Thực trạng và khả năng vay nợ của đơn vị ra sao? Lợi nhuận đạt được trong kỳ là bao nhiêu? Sản phẩm nào cần sản xuất? Giá bán là bao nhiêu? Ảnh hưởng của việc tăng hay giảm giá các yếu tố đầu vào đối với hoạt động của đơn vị mình ra sao? Nhu cầu thông tin kế toán của nhà quản lý ở DN rất phong phú, đa dạng, và thay đổi liên tục. Hệ thống kế toán trong điều kiện đó phải cung cấp thông tin toàn diện về mọi hoạt động của đơn vị để người quản lý có cơ sở ra quyết định đúng đắn. - Đối với các đối tượng ngoài DN: Nhu cầu thông tin kế toán của các đối tượng này thường khác nhau do sự khác biệt về lợi ích kinh tế, nhưng chung quy lại có hai nhóm. Một là nhu cầu thông tin phục vụ cho công tác quản lý nền kinh tế.
Hai là nhu cầu thông tin phục vụ cho lợi ích riêng lẻ của các tổ chức kinh tế hay cá nhân có liên quan đến DN. Cụ thể: + Đối với Nhà nước: Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước quản lý 2 Thạc sỹ Cao Xuân Hợp-tạp chí kế toán và kiểm toán 10 các tổ chức kinh tế trên cơ sở hệ thống luật pháp nên rất cần thông tin kế toán để kiểm tra, kiểm soát tình hình tuân thủ pháp luật của các tổ chức. Thông tin kế toán về tình hình hoạt động của các DN còn là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước đánh giá tổng hợp thực trạng hoạt động của mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi khu vực kinh tế và toàn thể nền kinh tế; qua đó xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp, đặc biệt là các chính sách về thuế. + Đối với các đối tượng khác: Lợi ích của những đối tượng này thường liên quan trực tiếp đến các nghiệp vụ kinh tế với DN nên thông tin kế toán có những vai trò riêng.
Chẳng hạn: Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác thường sử dụng thông tin kế toán để đánh giá thực trạng tài chính, hiệu quả hoạt động cũng như khả năng thanh toán các khoản nợ vay của các tổ chức kinh tế. Qua đó, có thể đưa ra những quyết định tài trợ thích hợp đối với từng tổ chức kinh tế. Đối với người chủ sở hữu: Người chủ sở hữu chỉ được xem là người ngoài DN khi có sự tách rời đáng kể giữa người quản lý và người sở hữu DN như trường hợp của các công ty cổ phần niêm yết giá hay các DN nhà nước. Ở khía cạnh này, thông tin kế toán không chỉ giúp người chủ sở hữu đánh giá tình hình sử dụng và khả năng sinh lời của vốn, mà trong một chừng mực còn kiểm soát các hoạt động của người quản lý bảo vệ tài sản, qua đó có những quyết định phù hợp nhằm tối đa hóa lợi ích của mình.
Đối với các nhà đầu tư tiềm tàng, nhà cung cấp, khách hàng và các cá nhân, tổ chức khác, thông tin kế toán là cơ sở để các đối tượng trên có những quyết định nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình hay phát triển các giao dịch kinh tế trong tương lai. Những phân tích trên cho thấy thông tin kế toán có vai trò không chỉ trong quản lý nội bộ một tổ chức mà còn phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, phục vụ cho các đối tượng bên ngoài trong việc ra quyết định có liên 11 quan đến DN. Nó như một bộ phận gắn liền, không thể thiếu được trong hệ thống quản lý ở các đơn vị có sử dụng tài sản, tiền vốn nói chung và các đơn vị sản xuất kinh doanh nói riêng. Trong điều kiện kinh tế thị trường, nhận thức đúng đắn vai trò này là rất cần thiết để việc thiết kế hệ thống kế toán ở mỗi tổ chức vừa đảm bảo nhu cầu thông tin cho quản lý nội bộ, vừa đảm bảo nhu cầu thông tin cho các đối tượng bên ngoài.
Đặc điểm của thông tin kế toán Thông tin kế toán giữ một vai trò quan trọng trong việc đánh giá chính xác tình hình kinh tế, tài chính của DN, giúp cho các đối tượng quan tâm nắm được thực trạng tài chính và an ninh tài chính của DN, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính trong tương lai cũng như rủi ro tài chính mà DN có thể gặp phải; qua đó, đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán thường có lợi ích kinh tế trực tiếp và gián tiếp tại đơn vị đó. Nhu cầu thông tin của đối tượng này sẽ chi phối đến mục tiêu cung cấp thông tin của hệ thống kế toán đơn vị. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bao gồm các nhà quản lý, các cổ đông hiện tại và tương lai, những người tham gia vào "đời sống" kinh tế của doanh nghiệp, những người cho DN vay tiền như: Ngân hàng, tổ chức tài chính., Nhà nước, nhà phân tích và các đối tượng khác… Đối với công tác thanh tra, kiểm tra thuế, thông tin kế toán được sử dụng để phân tích, đánh giá những rủi ro để lựa chọn chính xác những trường hợp cần thiết để thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ chính sách pháp luật và tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của DN, đồng thời thông tin kế toán còn được sử dụng trong các cuộc thanh tra, kiểm tra để phát hiện ra những hành vi gian lận trong công tác kế toán của DN.
Đối với công tác quản lý thuế TNDN, thông tin kế toán được sử dụng để DN kê khai nghĩa vụ thuế TNDN đối với NSNN, đồng thời thông tin kế toán còn là cơ sở để các cơ quan chức năng của Nhà nước kiểm tra, đánh giá 12 tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của DN. - Thông tin kế toán được sử dụng để DN kê khai nghĩa vụ thuế TNDN đối với NSNN Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành được phản ánh trên các bản chứng từ kế toán. DN phải có những quy định cụ thể về việc ghi chép đầy đủ chính xác các chỉ tiêu trên chứng từ, quy trình luân chuyển chứng từ, bảo quản và lưu trữ chứng từ nhằm phản ánh đúng các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh, phục vụ cho việc ghi sổ kế toán và lập các Báo cáo kế toán. Các sổ kế toán có liên quan, các Báo cáo kế toán và các tài liệu khác là cơ sở để kế toán DN lập Hồ sơ quyết toán thuế TNDN để kê khai nghĩa vụ thuế TNDN đối với NSNN.
- Thông tin kế toán là cơ sở để các cơ quan chức năng của Nhà nước kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của DN CQT căn cứ vào Hồ sơ quyết toán thuế của DN để kiểm tra tính đầy đủ, tính hợp lệ, hợp pháp, kiểm tra việc tính toán số liệu trên báo cáo.