Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác thanh tra, kiếm tra thuế 1.1 Các khái niệm và cơ sở lý thuyết 1.1 Khái niệm về thanh tra - kiểm tra Giải nghĩa theo từ điển Tiếng Việt, thanh tra được xem là một cuộc kiểm tra, xem xét trực tiếp, khách quan các hoạt động của doanh nghiệp, đơn vị. Trong đó, các cắp chính quyền có trách nhiệm liên quan sẽ thực hiện nhiệm vụ phân tích, đối chỉ , kiểm soát toàn diện. Thanh tra hàm ý bên trong mang nghĩa kiểm soát nhằm kiểm soát, phát hiện và ngăn chặn các trường hợp không đúng pháp luật quy định. Ngoài ra, thanh tra - kiểm tra còn được hiểu là việc rà soát, đối chiếu, kiểm soát, kiểm tra thường xuyên và liên tục nhằm cung cắp các số liệu, kết quả quan trọng.
để kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền khắc phục các tồn tại, hạn chế, đây mạnh ưu điểm, qua đó góp phần phát huy hiệu quả quản lý nhà nước. Cơ quan Thanh tra nha nước đưược thành lập để quán lý công tác thanh tra, Thanh tra nhà nước gồm có hai hình thức: thanh tra theo hành chính nhà nước; thanh tra riêng biệt theo chuyên ngành. Thanh tra theo hành chính nhà nước là công. tác thanh tra đối với cơ quan, đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đảm nhận trong việc chấp hành chính sách pháp luật, nghĩa vụ, quyền hạn được giao.
tra riêng biệt theo chuyên ngành là công tác thanh tra theo từng ngành nghề riêng. biệt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đảm nhận đối với cơ quan, đơn vị, từ đó đề thực hiện đúng pháp luật theo chuyên ngành riêng biệt, quy định về chuyên môn, nghiệp vụ, nguyên tắc trong quản lý thuộc ngành, nghề đó. Từ điển Tiếng Việt nêu rõ, kiểm tra là hoạt động xem xét, phân tích tình hình. thực tế từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, đúng mực.
Công tác kiểm tra được thực hiện bởi mọi chủ thể quản lý, không có sự phân biệt các cấp. Tuy nhiên mỗi cắp bậc khác nhau sẽ có quy mô kiểm tra, nội dung kiểm tra khác nhau nhằm đảm bảo tính hợp lý và năng lực nhận định vấn đề. Nhu vay, nhìn từ khái niệm rõ rằng thanh tra có phạm vi hẹp hơn hoạt động kiểm tra. Trong đó, đơn vị thực hiện công tác thanh tra sẽ là các đơn vị nhà nước được phân quyền.
Đơn vị thực hiện của kiểm tra được mở rộng là mọi đơn vị quản. Tuy nhiên, đủ kiểm tra có phạm vi rộng hơn nhưng với sự hoạt động của nhà nước để kiểm tra nhằm giám sát việc chấp hành kỷ cương, pháp chế của nhà nước, những quyền và nẹ la vụ của công dân trong việc quản lý mang tính nhà nước hiện nay.2 Khái niệm về thanh tra - kiểm tra thuế Cơ quan thuế tôn trọng, chấp nhận kết quả tự khai, nộp thuế của người nộp. thuế theo tinh thần người nộp thuế tự khai nộp, hỗ trợ người nộp thuế tự giác thực. hiện tốt các quy định của pháp luật thuế, người nộp thuế được quyền tự tính, tự chịu trách nhiệm, khai, nộp thuế vào ngân sách nhà nước, mặc dù người nộp thuế.
được tự khai tự nộp nhưng người nộp thuế vẫn chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước thông qua việc thanh tra - kiểm tra để qua đó kiểm tra, hạn chế, kiểm soát và xử lý đúng thời điểm các trường hợp vỉ phạm quy định thuế. Công tác thanh tra theo chuyên ngành Thuế về cơ bản được thực hiện theo. nguyên tắc của thanh tra theo chuyên ngành. Theo luật về Thanh tra số 22/2004/QHI1 thì không quy định cụ thể việc thành lập cơ quan thanh tra ở cấp.
tông cục thuế, cục thuế và chỉ cục thuế, tuy nhiên trên thực tế lại có không ít các cắp thành lập cơ quan thanh tra theo chuyên ngành. Từ đó để các trường hợp sai phạm không đúng pháp luật vẫn đảm bảo được yêu cầu xử lý đúng lúc, nhanh chóng, khắc phục được khó khăn, nhất là các trường hợp sai phạm xảy ra tăng liên tục trong một số lĩnh vực liên quan đến an sinh xã hội của người dân. Luật về Thanh. tra số 56/2010/QH12 đã có sự đổi mới về cách nhận thức trong tổ chức thực hiện công tác thanh tra theo chuyên ngành, bắt đầu giao chức năng thanh tra theo chuyên.
ngành ở từng lĩnh vực, nghề cho các cấp tổng cục thuế, cục thuế thuộc bộ, chỉ cục thuế thuộc sở thực hiện. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 cần nhắn mạnh rằng việc giao chức năng thanh tra theo chuyên ngành phải do các cơ quan chuyên biệt nào được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng thanh tra này sẽ do quy định từ Chính phủ theo đề nghị của Tổng Thanh tra Chính phủ sau khi đã thống nhất với Bộ trưởng thuộc Bộ phải xuất pháttừ yêu cầu. công tác quản lý trong nhà nước, không phái cơ quan cấp nào cũng được giao thực hiện chức năng thanh tra theo chuyên ngành. “Thanh, kiểm tra thuế là việc giám sát đối với các nghiệp vụ, giao dịch liên quan đến phát sinh việc kê khai tính thuế, tình hình kê khai thuế và việc nộp thuế.
vào ngân sách nhà nước, chấp hành nghĩa vụ kê khai nộp thuế của người nộp thuế (NNT) đối với cơ quan thuế (CQT), từ đó bảo đảm pháp luật thuế được chấp hành nghiêm chỉnh, tránh hành vi trốn thuế, gian lận về thuế. Kiểm tra trong lĩnh vực thuế là công tác thường kỳ mang tính nghiệp vụ. nhằm đánh giá các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế một cách đầy đủ, chính xác, từ cơ quan quản lý thuế có cơ sở đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế có thuộc diện rủi ro trong việc kê khai thuế hay không. ‘Thanh tra trong lĩnh vực thuế là công tác nhằm mục đích đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, qua đó xác minh và thu thập chứng cứ để xác.
định các trường hợp kê khai không đúng quy định pháp luật về thuế, dựa trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế từ hệ thống kê khai nộp thuế của cơ quan quản lý thuế. So sánh giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế có những đặc điểm sau: ính chất công việc Kiểm tra trong lĩnh vực thuế là công việc thường xuyên mang tính nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế không nhất thiết phải có sự phê duyệt từ Tổng cục Thuế. (TCT) hoặc Bộ Tài Chính. Thanh tra trong lĩnh vực thuế là việc được tiến hành theo hoạch định hoặc đột xuất của CQT với sự phê duyệt từ Tông cục Thuế hoặc Bộ Tài Chính.
Về phạm vi Kiém tra trong lĩnh vực thuế được tiến hành với bắt kỳ người nộp thuế nào. 'bao gồm kiêm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế đưược thực hiện thường xuyên hàng. năm đối với các hỗ sơ thuế và kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế, thực hiện với các trường hợp: Người nộp thuế không giải trình hồ sơ theo thông báo yêu cầu giải trình từ cơ quan thuế, không khai bổ sung hỗ sơ thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý. thuế hoặc giải trình, khai bổ sung không đúng, không cung cấp được hồ sơ chứng.
minh số thuế phải nộp, số thuế miễn, giảm, hoàn như công ty kê khai ban đầu; *⁄ Các trường hợp kiểm tra sau khi có tờ khai xuất khẩu và nhập khẩu gồm. kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu, kiểm tra đối với hàng hóa xuất nhập. khẩu; * Kiểm tra đối với các đối tượng kiểm tra được chọn lọc theo tiêu chí đánh. giá rủi ro về thuế từ ứng dụng của cơ quan thuế.
“Thanh tra thuế được áp dụng khi: */ Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế; ¥ Dé giai quyết khiếu nại, tố cáo hoặc thực hiện các biện pháp phòng, chống. tham nhũng; *⁄ Theo yêu cầu của công tác quản lý thuế trên cơ sở kết quả phân loại rủi ro trong quản lý thuế, *⁄ Theo kiến nghị của Kiểm toán nhà nước, kết luận của Thanh tra nhà nước. và cơ quan khác có thâm quyền” - Theo nguồn văn bản hợp nhất 15/VBHN-BTC, 2018. Về địa điểm thực hiện Kiểm tra thuế: Tại CQT hoặc tại trụ sở của NNT.
‘Thanh tra thuế: Chỉ thực hiện tại trụ sở của NNT. mục đích iêm tra thuế: Nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hỗ sơ thuế hoặc đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế của người. “Thanh tra thuế: Đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế; xác minh và thu thập, phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế” - theo. nguồn tài liệu ôn thi công chức thuế năm 2020.
10 “Thời hạn kiểm tra thuế: Thời hạn kiểm tra được xác định trong quyết định kiểm tra nhưng không quá 10 ngày làm việc tại trụ sở của người nộp thuế (thời hạn kiểm tra được tính từ ngày công bố quyết định kiểm tra); trường hợp phạm vi kiểm. tra lớn, nội dung phức tạp thì người đã quyết định kiểm tra có thể gia hạn 01 lần nhưng không quá 10 ngày làm việc tại trụ sở của người nộp thuế, Lập biên bản kiểm tra thuế trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn kiểm tra” — theo nguồn Luật quản lý Thuế, 2019. “Thời hạn thanh tra thuế: Cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ tiến hành. không quá 60 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không quá 90 ngày” - theo nguồn Luật Thanh tra số 56/2010.
“Đối với cuộc thanh tra đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiễu lĩnh vực, nhiều địa phương thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài, nhưng không quá 150 ngày; Cuộc thanh tra do Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ tiến hành không quá 45 ngày, trường hợp phức tạp th có thể kéo dài, nhưng không quá 70 ngày; Cuộc thanh tra do Thanh tra huyện, Thanh tra sở tiến hành không quá 30 ngày; ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài, nhưng không quá 45 ngày” - theo nguồn. Báo cáo số 2804/BC-UBPLI3. Thanh tra, kiểm tra có sự khác biệt nhưng cũng chỉ mang tính tương đối. “Mục tiêu của thanh, êm tra thuế là phòng ngừa, ngăn chặn các hành vỉ sai sót và gian lận thuế của đối tượng nộp thuế.