MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước, thuế là công cụ chủ yếu để huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), hàng năm số thu về thuế chiếm khoảng 80% đến 90% tổng thu NSNN và thuế còn là công cụ quan trọng để điều tiết nền kinh tế, kích thích sản xuất phát triển. Do có vai trò rất quan trọng nên các quốc gia đều rất quan tâm đến thuế và đưa ra nhiều biện pháp quản lý và thu thuế. Trong các đối tượng quản lý về thuế thì quản lý thu thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (NQD) là phức tạp nhất.
Đây là khu vực kinh tế gồm nhiều đơn vị sản xuất, hoạt động trong hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Đây cũng là khu vực khó quản lý và dễ gây thất thu lớn. Do vậy làm thế nào để quản lý thuế của khu vực kinh tế NQD vừa bảo đảm thu ngân sách, thực hiện công bằng giữa các chủ thể kinh doanh, vừa kích thích phát triển sản xuất - kinh doanh của khu vực này đang là bài toán khó. Chi cục thuế Nam Trực là một trong những Chi cục thuộc Cục thuế Tỉnh Nam Định trong nhiều năm đều hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN.
Tuy vậy việc quản lý thu thuế khu vực kinh tế NQD hiện còn nhiều trở ngại trong cơ chế chính sách, quy trình hành thu còn nhiều vướng mắc, ý thức chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế còn thấp. Một số hiện tượng tiêu cực còn phổ biến như: không sử dụng hoá đơn khi bán hàng, khai tăng chi phí, ghi giá thấp, khai man chốn thuế còn nhiều. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều thành phần tham gia, các chủ thể kinh doanh khu vực kinh tế NQD tăng lên nhanh chóng cả về số lượng lẫn quy mô. Việc đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế , cơ chế chính sách quản lý từ Trung ương đến các địa phương.
Điều đó đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản quản lý thuế nói chung và quản lý thu thuế khu vực kinh tế NQD trên địa bàn huyện Nam Lưu Quang Tuyển 7 Khóa 2010 A Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Trực nói riêng. Việc nghiên cứu để tìm những giải pháp đổi mới, cải tiến quy trình, thủ tục cũng như đề xuất đổi mới pháp luật, để làm tăng thêm hiệu lực, hiệu quả của công cụ thuế trở nên rất bức xúc. Đó cũng là lý do chủ yếu của việc em lựa chọn đề tài: " Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Nam Trực, Nam Định” 2. Mục đích và nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu - Mục đích: làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và những giải pháp thiết thực nhằm tăng cường, hoàn thiện quản lý thu thuế NQD trên địa bàn huyện.
- Nhiệm vụ của luận văn: + Hệ thống hóa những vấn đề lý luận của quản lý thu thuế NQD. + Phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa bàn huyện. + Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện và tăng cường quản lý thu thuế NQD tại huyện. - Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về quản lý thu thuế khu vực NQD trong các hoạt động sản xuất- kinh doanh - dịch vụ trên địa bàn tỉnh gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Hộ kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ từ năm 2009 - 2011.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Từ những đánh giá về thực trạng, những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của những tồn tại của công tác quản lý thu thuế NQD ở huyện Nam Trực, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý thu thuế NQD trên địa bàn huyện hiện nay. Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo và các cán bộ nghiệp vụ ở cơ quan thuế trong quá trình lập dự toán, phân tích, đánh giá kế hoạch thu, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Lưu Quang Tuyển 8 Khóa 2010 A Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội quản lý thu thuế ở đơn vị. Đảm bảo sự tinh tế trong hành thu; hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng thất thu thuế; thực hiện công bằng trong điều tiết thuế ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế. Bố cục của luận văn Luận văn được kết cấu như sau: Chƣơng I: Lý luận chung về Thuế và quản lý thu thuế ngoài quốc doanh.
Chƣơng II: Thực trạng công tác quản lý thu thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế Nam Trực, Nam Định. Chƣơng III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh ở tại Chi cục thuế Nam Trực. Lưu Quang Tuyển 9 Khóa 2010 A Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội CHƢƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH 1. THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ 1.
Khái niệm, đặc điểm của thuế 1.1 Khái niệm Việc nghiên cứu về sự tồn tại và phát triển của Nhà nước đã giúp cho chúng ta hiểu ra một điều đó là: Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình Nhà nước phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên trong xã hội có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, thu nhập cho Nhà nước. Hình thức đó chính là thuế. Như vậy thuế là sản phẩm tất yếu từ sự xuất hiện bộ máy Nhà nước. Trong quá trình tồn tại của mình, thuế đã được nghiên cứu, định nghĩa khá nhiều và trên nhiều góc độ khác nhau.
Các nhà kinh điển thì cho rằng: “Thuế cấu thành nên phần thu của chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế” (Lê-nin toàn tập), hoặc thuế được quan niệm rất đơn giản: "Thuế khóa là cái vú sữa của chính phủ" Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta lại cho rằng: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng của Nhà nước. Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, một khi Nhà nước chỉ làm nhiệm vụ quản lý hành chính đơn thuần thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ở chừng mực nhất định, xã hội ngày càng phát triển hơn nên Nhà nước có thêm nhiệm vụ điều hành, quản lý nền kinh tế thì chi tiêu của Nhà nước ngày càng nhiều hơn. Đến khi Nhà nước đảm nhận thêm công việc chăm lo Lưu Quang Tuyển 10 Khóa 2010 A Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đời sống, văn hóa, xã hội của cộng đồng thì thuế lại được động viên càng lớn với nhiều sắc thuế và ở tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế. Như vậy, khi vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước ngày càng được mở rộng, đòi hỏi nguồn tài chính phục vụ cho việc chi tiêu ngày càng tăng lên.
Điều đó, không thể thiếu sự đóng góp của người dân và các tổ chức kinh tế, đó là thuế. Theo phân tích trên, thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và thuế ra đời khi hoạt động lao động sản xuất của xã hội loài người tạo ra sản phẩm thặng dư. Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự chuyển dịch giá trị sản phẩm thặng dư từ thành phần kinh tế này sang thành phần kinh tế khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác rất đa dạng và phức tạp. Cho nên, đứng trên giác độ toàn xã hội, đòi hỏi phải có hệ thống thuế để điều tiết thỏa đáng số sản phẩm thặng dư xã hội tạo ra sao cho hợp lý và công bằng.
Vì vậy, khi xã hội càng văn minh thì thuế khóa lại càng đa dạng và phát triển. Tóm lại, qua quá trình phát triển của Nhà nước và thuế cho chúng ta thấy, thuế và Nhà nước là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế. Thuế là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước.
Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật. Lưu Quang Tuyển 11 Khóa 2010 A Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 1. Đặc điểm: Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế.
Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác. Đặc điểm thứ nhất: Thuế có tính pháp lý và tính cưỡng chế cao. Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng thuế là nguồn thu chủ yếu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, bởi vậy việc đóng thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân cho Nhà nước.
Nghĩa vụ này được quy định cụ thể trong luật của mỗi quốc gia sao cho phù hợp với từng đối tượng đóng thuế. Việc không thực hiện đúng nghĩa vụ thuế là đã vi phạm pháp luật và sẽ bị cưỡng chế thực hiện hoặc xử lý theo đúng pháp luật. Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN.