Chương 1. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN LÝ THUE THU NHAP CÁ NHÂN VA PHÁP LUẬT VE QUAN LÝ THUE THU NHAP CA NHAN 1. Những van đề lý luận về quản lý thuế TNCN 1. Khái quát thuế TNCN 1.1 Khái niệm thuế TNCN Thuế vừa là phạm tra kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử[46].
Quá trình hình thành xã hội loài người là minh chứng rõ ràng nhất cho việc ra đời của thuế là nhu cầu tất yếu và khách quan, gan liền với lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước. Tương tự như đối với đời sông xã hội, Nhà nước có phát triển lớn mạnh hay không, có duy trì được sự ton tại của mình hay không thì yếu tố cần thiết nhất đó là nguồn tài chính cho hoạt động chỉ tiêu, duy trì cũng như củng cố bộ máy cai trị, quản lý tat cả các công việc thuộc phạm vi chức năng của mình. Để thực hiện tất cả các chức năng của mình như an ninh quốc phòng, phát triển cơ sở hạ tầng. thì Nhà nước tiến hành thu một phan của cải của xã hội dé đóng góp vào nguôn tài chính của Nhà nước.
Quan hệ xuất phat từ việc “thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thué”[43, tr 7]. Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phổ biến trên khắp thế giới và đã có lịch sử hang trăm năm. Hiện nay, hơn 180 quốc gia trên thé giới áp dụng Thuế thu nhập cá nhân. Trong số đó, Ha Lan được coi là quốc gia đầu tiên áp dụng Thuế thu nhập cá nhân vào năm 1797, và sau đó là Anh vào năm 1799.
Loại thuế này đòi hỏi các cá nhân phải đóng một phần thu nhập của họ cho ngân sách Nhà nước. Thuế thu nhập cá nhân thường được áp dụng dựa trên cơ sở thuế thu nhập bao gồm mức thuế được tính dựa trên thu nhập cá nhân của người nộp thuế, và tỷ lệ thuế có thê biến đổi tùy theo mức thu nhập. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc cung câp nguôn tải trợ cho các dự án và dịch vụ công cộng của quốc gia, chăng hạn như chăm sóc y tế, giáo dục, và hạ tầng CƠ SỞ. Các quốc gia áp dụng Thuế thu nhập cá nhân với mục tiêu cân đối ngân sách và đảm bảo tính công bằng trong thu thuế.
Một số quốc gia có thể sử dụng Thuế thu nhập cá nhân như một công cụ dé tái phân phối thu nhập trong xã hội. Với sự phổ biến và tính lịch sử của loại thuế này, nó đóng một vai trò quan trọng trong quản lý tài chính và kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới. Giáo trình Luật Thuế Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “7huế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định"[43, tr 10]. Từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm: “thué là khoản tién hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản thu nhập nghề nghiệp.
buộc phải nộp cho nhà nước theo quy dinh’|38, tr 963]. Như vậy, các khái niệm về thuế nêu trên có thể hiểu thuế là việc thu của Nhà nước và việc của người dân theo những điều kiện và quy định cụ thé. Về nguyên tắc, bất ky cá nhân hoặc tô chức nao, khi thu về bat kỳ khoản thu nhập nao (dưới bat kỳ hình thức nao, chăng hạn là lương, lợi nhuận từ đầu tư hoặc kinh doanh, hoặc bất cứ nguồn thu nào), đều phải phân định một phần thuế từ số thu nhập này để đóng góp cho ngân sách Nhà nước. Đây là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống thuế.
Từ điển Tiếng Việt cũng đưa khái niệm về thu nhập theo đó thu nhập là “các khoản thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định tính theo tháng năm” đồng thời đưa ra giải thích “thu nhập là nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó”[38, tr 984]. Về cơ bản thu nhập là những khoản mà cá nhân, tô chức được nhận thông qua những hoạt động cụ thé, thu nhập của cá nhân có thé bao gồm các khoản như lương, thường, hoạt 10 động kinh doanh. tuy nhiên không phải tất cả các khoản thu nhập của cá nhân đều phải chịu thuế. Thu nhập là tông số tiền kiếm được hoặc thông qua thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định, ở quan điểm khác, thu nhập là “Tống các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ của một chủ thể nảo đó trong nền kinh tế - xã hội tạo ra và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời hạn nhất định (thường là 01 năm)”[31, tr 23].
Có nhiều quan điểm về thuế TNCN như: “Thuế TNCN là một loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân do Nhà nước ban hành thành luật và được bảo đảm thi hành bang sức mạnh của Nhà nước”[24], cũng có quan điểm cho rằng “Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong năm, tháng hoặc theo lần”[43, tr 10]. Hay định nghĩa “ Thuế x A TNCN là thuế đánh vào phan thu nhập của người dân và cần căn cứ vào nhiều yếu tố như chế độ an sinh xã hội, khả năng, thu nhập và mức sống dân cư”[41]. Trước đây, thuế thu nhập là khoản thu được thực hiện đối với những người có thu nhập cao, hay nói cách khác, khoản thuế này là khoản thuế được đánh vào thu nhập của một cá nhân cụ thể, và chỉ cá nhân có thu nhập cao hơn được xác định theo những tiêu chí cụ thé mới phải nộp thuế, còn cá nhân được đánh giá là có thu nhập thấp thì không phải nộp. Tại các quốc gia phát triển, cũng như tại Việt Nam việc thu thuế đối với những cá nhân có thu nhập cao có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng thêm nguồn thu cho ngân sách đồng thời đây cũng là chính sách tạo sự công bằng trong xã hội.
Từ những phân tích trên, có thé định nghĩa: “Thuế TNCN là khoản tiên mà các cả nhân phải nộp vào NSNN khi thu nhập thực nhận cua cả nhân đó 11 đáp ứng điều kiện nộp thuế theo quy định của pháp luật”. Đặc trưng của thuế TNCN Sự điều tiết thuế đối với thu nhập sẽ phụ thuộc vào nguồn gốc cụ thé của thu nhập và sẽ tuân theo các quy định về địa chỉ cư trú hoặc các điểm đặc biệt khác theo quy định của từng quốc gia. Dựa trên khái niệm và những phân tích nêu trên, có thê thấy thuế TNCN có những đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân chịu thuế. Cá nhân chịu thuế TNCN là cá nhân Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam khi đảm bảo các điều kiện quy định về điện chịu thuế sau khi đã giảm trừ.
Hay nói cách khác, đối tượng nộp thuế ở đây bao gồm tất cả những người có thu nhập cao, bao gồm cả cá nhân cư trú và không cư trú. Ở đây, ta muốn khăng định lần nữa là thuế thu nhập cá nhân mang đặc điểm là loại thuế trực thu và phạm vi điều tiết rất rộng nên nó có ảnh hưởng rất mạnh đến tâm lý của dân cư bởi vì nó có liên quan trực tiếp từ thu nhập của người chịu thuế. Thứ hai, Thuế TNCN là khoản thuế có diện đánh thuế rất rộng, bởi lẽ diện đánh thuế của thuế TNCN được xác định dựa trên khoản thu nhập của cá nhân và nơi cư trú của cá nhân. Thu nhập của cá nhân phải chịu thuế TNCN bao gồm toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân có nguồn gốc cả trong hoặc ngoài lãnh thé Việt Nam trừ những khoản được miễn trừ.
Đối tượng chịu thuế thuộc diện rộng như phân tích ở trên. Thứ ba, Thuế thu nhập cá nhân thông thường là loại thuế lũy tiến. Tại đa số các quốc gia việc thu thuế TNCN thường dựa trên một biéu thuế lũy tiến, tương ứng người có thu nhập càng cao thì thuế càng cao. Việt Nam cũng thực hiện chính sách thuế TNCN tương đồng với các nước trên thế giới về việc xây dựng thuế TNCN theo mức lũy tiến này.
Việc xây dựng quy định như hiện nay góp phân cân băng xã hội giữa người giàu và người nghèo, người có thu 12 nhập cao và người có thu nhập thấp, có nghĩa rằng người có thu nhập càng cao thì càng phải đóng góp nhiều hơn cho đất nước và xã hội. Thứ tư, Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp và có tính trung lập đối với cơ cau kinh tế. Đặc điểm quan trọng của loại thuế này là khả năng điều tiết thu nhập của công dân, và vì phạm vi điều tiết rất rộng, quản lý loại thuế này trở nên vô cùng khó khăn. Thuế thu nhập cá nhân thường gây phản ứng từ phía người nộp thuế, và sự đa dạng của đối tượng nộp thuế và nguồn thuế làm cho công tác quản lý thuế trở nên đầy thách thức.
Điều này dẫn đến chi phí thuế cá nhân tăng cao. Mặc dù Thuế thu nhập cá nhân không ảnh hưởng trực tiếp đến một ngành kinh tế cụ thé nào, nó van có tác động đối với cơ cau tổng cầu trong nên kinh tế. “Thuế thu nhập cá nhân được xem xét là một công cụ thuế quan trọng trong chính sách tài khóa quốc gia và ảnh hưởng đến tổng câu của nên kinh tế, do đó nó vẫn có những tác động cụ thể đối với cơ cau kinh tế. Vai trò của Thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Mức Thuế thu nhập cá nhân được tính dựa trên thu nhập của công dân, và khi thu nhập của công dân tăng cao, thuế thu nhập cá nhân cũng tăng theo. Thường, ở các nước phát triển, thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu ngân sách, thậm chí lên tới 50% tỷ trọng nguồn thu như Hà Lan (52%), Đan Mạch (55.4%), và Thuy Điền (56. Trong khi đó, ở các nước đang phát triển, với mức sống trung bình vẫn thấp, số người có thu nhập cao là một phần nhỏ, và đa số dân cư có thu nhập và mức sống thấp hơn so với các nước phát triển. Vì vậy, kha năng đóng góp thuế thu nhập cá nhân cho Nhà nước ở các nước đang phát triển vẫn còn thấp, chỉ chiếm từ 15% đến 30% ty trọng nguồn thu ngân sách.