Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Thực trạng công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
9 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân. Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đƣợc hiểu là các loại hình doanh nghiệp không có sở hữu của Nhà nƣớc, trừ Hợp tác xã.
Toàn bộ vốn, lợi nhuận của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều thuộc sở hữu tƣ nhân hay tập thể ngƣời lao động, chủ sở hữu chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phƣơng thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nƣớc mà không chịu bất cứ sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nƣớc hay cơ quan quản lý. Đặc điểm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau: Về phân bố, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có xu hƣớng tập trung ở thành thị phát triển hơn ở nông thôn, đặc biệt ở các thành phố lớn nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh,.còn ở các nơi khác nhìn chung phần nhiều là các doanh nghiệp nhỏ, lao động và vốn eo hẹp. Điều này phản ánh quy luật chung của sự phát triển đó chính là sự hạn chế về tính năng động, khả năng về vốn, sự tiếp cận thị trƣờng ở các vùng có cơ sở hạ tầng chƣa phát triển. Về quy mô hoạt động, phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là do chủ sở hữu tƣ nhân đứng ra thành lập, đầu tƣ kinh doanh và tổ chức quản 10 z lý nên thƣờng có quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất tuy đã đƣợc quan tâm nhƣng nhìn chung vẫn còn lạc hậu, trình độ quản lý đã có bƣớc tiến bộ nhƣng vẫn còn thấp và chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của thời kỳ mới.
Hơn nữa, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh do môi trƣờng pháp lý chƣa thực sự ổn định, còn nhiều thay đổi và vƣớng mắc. Quy mô hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thƣờng nhỏ hơn nhiều so với quy mô đầu tƣ của các doanh nghiệp do Nhà nƣớc cấp vốn. Đây cũng chính là một thách thức lớn trong quá trình phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế. Về lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia hoạt động kinh doanh trên rất nhiều lĩnh vực nhƣng tập trung vào một số ngành đòi hỏi vốn đầu tƣ ban đầu thấp, thị trƣờng tiêu thụ rộng khắp và ít chịu sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp lớn nhƣ lĩnh vực chế biến nông, lâm, hải sản xuất khẩu, lĩnh vực gia công may mặc, đồ da, đồ trang sức, lĩnh vực xây dựng cơ bản với các mặt hàng vật liệu xây dựng nhƣ gạch, ngói, gốm sứ, đồ mỹ nghệ xuất khẩu, lĩnh vực giao thông vận tải.
Ý thức tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn chƣa nghiêm túc, tỉ lệ vi phạm các quy định pháp luật còn rất cao. Điều này xuất phát từ mục đích cao nhất của hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận nên nhiều doanh nghiệp bằng mọi biện pháp và hình thức khác nhau, bất chấp các thủ đoạn kể cả hành vi gian lận trốn, lậu thuế để kiếm lời bất hợp pháp. Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân Thực tiễn cho thấy, với sự phát triển rộng khắp cả nƣớc, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã góp một vai trò quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh với hàng nghìn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là khu vực đóng góp ngày càng quan trọng vào sự tăng 11 z trƣởng của tổng sản phẩm quốc nội.
Cho đến nay, mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã trở thành lực lƣợng chủ công trong nhịp độ tăng trƣởng của nền kinh tế, trong tất cả các ngành, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ thƣơng nghiệp nội địa đến xuất, nhập khẩu. Vị trí của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh mỗi năm đƣợc tăng lên trong đầu tƣ phát triển cũng nhƣ trong tăng trƣởng đã trở thành xu thế tất yếu của nền kinh tế Việt Nam, không chỉ hiện nay mà còn có ý nghĩa quyết định cả trong tƣơng lai. Hơn nữa, sự tham gia của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là nhân tố chủ yếu thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế phát triển đa dạng, cả công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc, theo yêu cầu của thị trƣờng và hội nhập kinh tế quốc tế. Có thể khẳng định rằng, nếu chỉ đơn thuần dựa vào đầu tƣ của Nhà nƣớc, không dựa vào lực lƣợng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thì chắc chắn không thể thực hiện đƣợc yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hƣớng thị trƣờng.
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn là nơi đảm bảo đại đa số chỗ làm việc cho ngƣời lao động, là lực lƣợng to lớn nhất trong các hoạt động xã hội, từ thiện, xoá đói giảm nghèo, góp phần giảm bớt chênh lệch giàu nghèo trong xã hội. Trên thực tế, nơi giải quyết việc làm chủ yếu và quyết định nhất cho số ngƣời đến tuổi lao động dôi dƣ từ các doanh nghiệp Nhà nƣớc đƣợc sắp xếp lại vẫn phải dựa vào khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Nhƣ vậy, với sự năng động và nhạy bén của mình, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã trở thành nhân tố chủ yếu thúc đẩy sức cạnh tranh của nền kinh tế, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội vào quá trình sản xuất, kinh doanh, tăng nguồn thu cho NSNN, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nƣớc. Hơn 12 z nữa, cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh về số lƣợng lẫn chất lƣợng đã góp phần giải phóng lực lƣợng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH - HĐH, phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN.
Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các tổ chức và cá nhân. Thuế thu nhập gồm có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. ( Nguồn: Giáo trình thuế TNDN - Tài liệu công chức mới ngành Thuế - Tổng cục Thuế) Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Đặc trƣng của thuế thu nhập doanh nghiệp - Thuế TNDN là một loại thuế trực thu. Tính chất trực thu của loại thuế này đƣợc biểu hiện ở sự đồng nhất giữa đối tƣợng nộp thuế và đối tƣợng chịu thuế. - Thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, bởi vậy mức động viên vào NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các phương pháp xác định thuế thu nhập doanh nghiệp Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất.
Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đƣợc xác định theo công thức sau: Thuế TNDN Thu nhập Thuế suất Phải nộp = tính thuế x Thuế TNDN Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế đƣợc xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu nhập đƣợc miễn thuế và các khoản lỗ đƣợc kết chuyển từ các năm 13 z trƣớc theo quy định. Thu nhập tính thuế đƣợc xác định theo công thức sau: Thu nhập Thu nhập Thu nhập đƣợc Các khoản lỗ đƣợc kết = - + tính thuế chịu thuế miễn thuế chuyển theo quy định Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác. Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định nhƣ sau: Thu nhập Doanh Chi phí Các khoản = - + chịu thuế thu đƣợc trừ thu nhập khác 1. Quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Khái quát chung về quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Quản lý thu thuế là một quá trình thực thi chính sách thuế, thông qua quá trình tác động của cơ quan thuế đến ngƣời nộp thuế, đảm bảo sự tuân thủ nghĩa vụ thuế theo luật định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có của cơ quan quản lý và tạo điều kiện thu đúng, thu đủ số thuế vào ngân sách nhà nƣớc một cách thuận tiện, đúng pháp luật. Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh là quá trình đảm bảo thực thi các chính sách thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thông qua quá trình tác động của cơ quan thuế các cấp lên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm đảm bảo sự tuân thủ theo luật định với kết quả cao. 14 z Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh có các đặc điểm cơ bản sau: - Quản lý thu thuế mang tính quyền lực nhà nƣớc và đƣợc đảm bảo bằng pháp luật. Hoạt động quản lý của cơ quan thuế cũng nhƣ việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp đều phải dựa trên cơ sở qui định của các luật thuế với đặc trƣng có tính bắt buộc cao.
Việc quản lý thuế bằng pháp luật đảm bảo sự thống nhất, minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nƣớc.