Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUỂ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Cơ sở lý luận về quản lý Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái quát về Doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam hiện nay 1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh Theo luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 có quy định: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh do tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý.
Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được hiểu là toàn bộ các đơn vị sản xuất kinh doanh của tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý. Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, khu vực kinh tế NQD bao gồm nhiều hình thức sở hữu đan xen đóng vai trò quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. Kinh tế ngoài quốc doanh rất đa dạng cả về hình thức thức sở hữu và các loại hình kinh doanh của các chủ thể tham gia.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng là loại hình doanh nghiệp NQD. Tuy nhiên theo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 7 khái niệm chính trị pháp luật đã thông dụng ở nước ta, đặc biệt là theo Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được xếp vào thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong xu thế mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã và đang chứng tỏ được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế nước ta, nó có những đặc điểm sau: - Doanh nghiệp NQD là khu vực kinh tế bao gồm các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bằng nguồn vốn của cá nhân hoặc một số cá nhân đóng góp, theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận. - Doanh nghiệp NQD mang tính sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do tư nhân quản lý và phân phối lợi nhuận, hiệu quả sản xuất gắn liền với quyền lợi cá nhân người sản xuất.
- Mục tiêu lớn nhất trong kinh doanh đối với doanh nghiệp NQD là lợi nhuận, họ có thể dễ dàng chấp nhận các phương án kinh doanh táo bạo và mạo hiểm để đạt mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy, đôi khi gậy hậu quả không tốt cho xã hội. Trên thực tế đã có không ít cơ sở kinh doanh trái phép không thực hiện nghĩa vụ kê khai nộp thuế cho NSNN như gian lận, trốn thuế, lợi dụng hóa đơn chứng từ để xin hoàn thuế sai quy định. Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh - Doanh nghiệp ngoài quốc doanh giúp khai thác các tiềm năng to lớn của nền kinh tế.
Cùng với các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần lớn trong việc tìm kiếm những mảnh đất màu mỡ của nền kinh tế chưa được khai thác đến. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế phát triển hay những ngành kinh tế đòi hỏi có hàm lượng tri thức cũng như có khả năng lấp đầy những khoảng trống trong những lĩnh vực sản xuất kinh doanh không cần nhiều vốn và có mức lợi nhuận thấp mà các nhà đầu tư lớn ít quan tâm tới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 8 - Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là cầu nối quan trọng để nền kinh tế nước ta từng bước hòa nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới bởi đây là khu vực các doanh nghiệp năng động. - Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nền kinh tế, giải quyết vấn đề thất nghiệp và tạo ra sự phát triển cân đối trong cơ cấu nền kinh tế.
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh giải phóng năng lực sản xuất cho người lao động, tạo ra nguồn sản phẩm phong phú về số lượng và chất lượng đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp ngoài quốc doanh luôn tập trung cao độ, tinh thần làm việc, phát huy mọi khả năng sẵn có để có thể đem lại hiệu quả cao nhất. Một mặt đây là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp quốc doanh, nếu một trong hai bên không năng động, đổi mới thì lập tức sẽ bị thị trường đào thải. Mặt khác, sự kết hợp sản xuất và tiêu thụ giữa hai khu vực tạo ra một dây truyền sản xuất lớn trong nền kinh tế, giúp quá trình sản xuất được rút ngắn.
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần tăng thu cho NSNN. Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh qua các năm, tỷ trọng doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm trên 90% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. - Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hứa hẹn tạo ra một thị trường vốn tín dụng lớn và hứa hẹn nhiều tiềm năng. Nền kinh tế ngày càng tăng trưởng khá, doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng tăng về số lượng và quy mô.
Khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của Thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm Thuế thu nhập doanh nghiệp Ở Việt Nam, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 9 hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức (Nguồn: Quốc hội, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 14/2008/QH12). Cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990, Luật thuế lợi tức đã được ban hành. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam.
Vì vậy, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Trong đó thuế TNDN là một trong số 11 sắc thuế, phí và lệ phí đang được thực hiện. Theo các tài liệu khác nhau thì khái niệm về thuế TNDN được đề cập như sau: “Thuế TNDN là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế”. Theo giáo trình thuế của Học viên tài chính, 2009, “Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ” Theo giáo trình Bồi dưỡng nghiệp vụ thuế cho công chức mới của Trường bồi dưỡng nghiệp vụ thuế, Tổng cục thuế, 2009.
Đặc điểm Thuế TNDN Thuế TNDN điều tiết trực tiếp vào các khoản thu nhập của các nhà sản xuất, các nhà đầu tư và người cung cấp dịch vụ. Vì vậy, số thuế thu được từ thuế TNDN phụ thuộc rất lớn vào kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. - Về cách tính thuế TNDN: Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế và thuế suất. Nên số thuế TNDN phải nộp phụ thuộc rất lớn vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập chịu thuế trong kỳ x thuế suất (%) Thu nhập chịu Doanh thu tính Chi phí hợp Thu nhập thuế trong kỳ thuế thu nhập lý chịu thuế = - + tính thuế trong kỳ trong kỳ khác - Về thuế suất: Thuế TNDN là thuế trực thu. Nhưng nó khác đặc điểm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 10 của loại thuế trực thu ở tính chất lũy tiến. Thuế suất thuế TNDN sử dụng là mức thuế suất đồng nhất. Tuy nhiên do mục tiêu của chính sách phát triển kinh tế xã hội thì mức thuế suất này có thể khác nhau trong việc áp mức thuế suất cho từng lĩnh vực, địa bàn, ngành nghề.
- Về nghĩa vụ nộp thuế TNDN: Bao gồm tất cả các tổ chức, kể cả tổ chức nước ngoài được thành lập theo Pháp luật Việt Nam có phát sinh thu nhập ở trong hay ngoài nước thì đều phải có nghĩa vụ xác định số thuế TNDN phải nộp vào NSNN Việt Nam. Nội dung cơ bản của quản lý Thuế thu nhập doanh nghiệp Theo Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 03/06/2008 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 có quy định những nội dung cơ bản về thuế TNDN như sau: - Đối tượng nộp thuế: Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế, bao gồm: a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; c) Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã; d) Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập. - Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế: Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam; - Thu nhập chịu thuế: Bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập (thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 11 nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; hoàn nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được; thu khoản nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam).