LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết Trong hơn 30 năm đổi mới, hệ thống chính sách thuế được hoàn thiện theo hướng đơn giản, minh bạch, công bằng, theo thông lệ quốc tế, phù hợp với thực tiễn và những bước phát triển của nền kinh tế. Hệ thông chính sách thuế được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đã bao quát cơ bản các nguồn thu cần điều tiết trong nền kinh tế; tiếp tục khẳng định thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước (NSNN); đáp ứng các nhiệm vụ chi ngân sách theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất, khơi dậy các tiềm năng, nội lực của đất nước. Về công tác quản lý thuế, trọng tâm của cải cách thuế là pháp chế hóa đầy đủ, toàn diện hoạt động quản lý thuế, dân chủ hóa việc kê khai tính thuế, nộp thuế tiến tới các đối tượng nộp thuế (ĐTNT) tự kê khai, tự tính thuế, nộp thuế; nâng cao ý thức tự giác và trách nhiệm pháp lý của các ĐTNT. Đồng thời phát huy vai trò kiểm tra, thanh tra của ngành thuế.
Trong điều kiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp hiện nay, công tác kiểm tra thuế đóng vai trò quan trọng. Kiểm tra thuế không chỉ góp phần phát hiện và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật về thuế, trốn thuế, gian lận thuế, mà còn góp phần cảnh báo, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế; góp phần nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế, tạo sự bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ thuế Doanh nghiệp (DN) là nhóm ĐTNT chủ lực, là lực lượng tạo ra nguồn thu chủ yếu của ngân sách từ những loại thuế đa dạng với tính chất phức tạp. Nhận thức được điều này, trong những năm qua hầu hết các DN đã thực hiện đầy đủ về chế độ hóa đơn chứng từ, hạch toán kế toán, đồng thời chấp hành các quy định của Chính phủ về kê khai khi nộp thuế. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có những DN lợi dụng những sơ hở của Luật thuế để trốn thuế với các mức độ và quy mô khác nhau.
Vì vậy, các cơ quan thuế các cấp có trách nhiệm tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý các hành vi vi 1 z phạm pháp luật về thuế nhằm chống thất thu cho NSNN. Đồng thời, đảm bảo các DN thực hiện theo đúng Luật Thuế của Chính phủ nhằm tạo sự công bằng, bình đẳng trong kinh doanh và trong thực hiện các nghĩa vụ thuế. Chi cục Thuế huyện Gia Lâm là đơn vị quản lý thu thuế trên địa bàn huyện Gia Lâm, trong những năm qua, công tác kiểm tra thuế đối với DN tại Chi cục luôn được coi trọng đúng với vai trò và vị trí của nó trong công tác quản lý thuế, chính vì thế đã góp phần quan trọng trong nhiệm vụ thu ngân sách. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện kiểm tra vẫn còn tồn đọng những hạn chế, những điểm bất cập cần cải thiện, khắc phục để hướng tới sự hoàn thiện trong công tác kiểm tra thuế nói chung và công tác kiểm tra thuế đối với DN nói riêng tại Chi cục Thuế huyện Gia Lâm.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên cùng với việc nghiên cứu này tại Chi cục chưa được thực hiện nên học viên chọn đề tài: “Công tác kiểm tra thuế đối với DN tại Chi cục Thuế huyện Gia Lâm” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu Tìm kiếm các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với DN tại Chi cục Thuế huyện Gia Lâm trong thời gian sắp tới.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa vấn đề lý luận về công tác kiểm tra thuế đối với DN; nghiên cứu kinh nghiệm của một số Chi cục khác và rút ra bài học kinh nghiệm cho Chi cục Thuế huyện Gia Lâm. - Phân tích thực trạng, quy trình công tác kiểm tra thuế đối với DN tại Chi cục Thuế huyện Gia Lâm trong giai đoạn 2016-2018. Từ đó đánh giá kết quả thực hiện công tác kiểm tra thuế, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với DN tại Chi cục Thuế huyện Gia Lâm. Câu hỏi nghiên cứu - Hoạt động kiểm tra thuế đối với DN bao gồm những nội dung gì? Những tiêu chí để đánh giá kết quả của công tác kiểm tra thuế đối với DN là gì? 2 z - Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với DN tại Chi cục Thuế huyện Gia Lâm diễn ra như thế nào? Những vấn đề cần phải khắc phục? - Cần thực hiện các giải pháp nào để hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với DN tại Chi cục Thuế huyện Gia Lâm? 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Công tác kiểm tra thuế đối với DN.2 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về không gian: Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế huyện Gia Lâm. - Phạm vi về thời gian: Dữ liệu phân tích thực trạng giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2016-2018.
Khoảng thời gian này, các thông tư hướng dẫn thi hành Thuế TNDN sau khi được sửa đổi và bổ sung hai năm trước đó đã khá ổn định và không có nhiều thay đổi. - Phạm vi về mặt nội dung: Đề tài giới hạn trong việc nghiên cứu thực trạng và quy trình công tác kiểm tra thuế đối với các DN được thành lập và hoạt động theo Luật DN thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục Thuế huyện Gia Lâm. Chú trọng nghiên cứu về thực trạng và quy trình để phân tích cụ thể, rõ nét công tác kiểm tra thuế đối với DN tại Chi cục Thuế huyện Gia Lâm. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 1.1 Tổng quan tình hình các nghiên cứu Trong công tác thuế nói chung và công tác kiểm tra thuế nói riêng đã thu hút được sự chú ý, quan tâm của khá nhiều các nhà khoa học, nhà quản lý ở Việt Nam.
Về cơ bản, có thể kể đến hai cuốn giáo trình mang tính học thuật, đó là: “Giáo trình Nghiệp vụ thuế” và “Giáo trình Quản lý thuế” của Học viện Tài chính. Hai cuốn giáo trình này cung cấp những vấn đề lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế cũng như giới thiệu những nghiệp vụ cơ bản của công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở Việt Nam. Về thực tiễn, gần đây xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến kiểm tra thuế, bao gồm cả những luận văn thạc sỹ và bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí khoa học. Trong đó, tiêu biểu là các công trình sau: - Nhật Minh (2018) “Gia tăng chất lượng thanh, kiểm tra thuế nhờ ứng dụng tin học”, Thời báo Tài chính Việt Nam.
Tác giả nhấn mạnh vai trò của CNTT trong thời đại công nghệ 4.0 nói chung và vai trò của phân tích rủi ro về thuế của DN thông qua các dữ liệu điện tử nói riêng. Việc vận hành tốt ứng dụng này giúp hỗ trợ đắc lực cho công tác lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế đối với DN. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra việc triển khai ứng dụng nhật ký thanh tra, kiểm tra điện tử để ghi nhật ký hoạt động của đoàn thanh tra, kiểm tra giúp cho cơ quan thuế giám sát một cách dễ dàng, từ đó tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đảm bảo thực hiện đúng mục đích, yêu cầu, nội dung theo kế hoạch thanh kiểm tra. - Đinh Tiến Hài, Chu Duy (2017) “Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đối với DN ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội”, Tạp chí Tài chính.
Bài viết đã khẳng định vai trò của các DN ngoài quốc doanh đối với NSNN. Đồng thời, qua đó tác giả cũng đã đánh giá tổng quát kết quả thu ngân sách từ DN ngoài quốc doanh 4 z trên địa bàn Hà Nội trong 3 năm gần nhất, số thu qua 3 năm có tăng. Để đạt được kết quả đó là nhờ cơ quan thuế siết chặt công tác kiểm tra và nâng cao tính tuân thủ pháp luật về thuế của NNT. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn trên địa bàn vẫn còn những tình trạng gian lận và trốn thuế nên bài báo cũng nêu ra được một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra đối với DN ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội.
- Trần Huy Trường (2014) “Quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế ở một số nước và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Tài chính. Dựa trên cơ sở thực tiễn, bài viết phân tích và đánh giá mô hình tổ chức thanh tra, kiểm tra thuế cũng như là công tác quản lý, thanh tra và kiểm tra thuế của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Trong bối cảnh hội nhập, ứng dụng kinh nghiệm quốc tế vào quản lý rủi ro trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế là việc làm hết sức cần thiết và những kinh nghiệm tại một số nước này có thể được tham khảo cho công tác thanh tra kiểm tra thuế tại Việt Nam. - Lê Minh Nhựt (2013) “Những kiến thức, kỹ năng cần thiết của công chức làm công tác kiểm tra thuế”, Cổng thông tin điện tử Cục Thuế Kon Tum.
Thông qua bài viết này, tác giả đã đánh giá tổng quát về nội dung kiểm tra thuế bao gồm kiểm tra tại trụ sở CQT và kiểm tra tại trụ sở NNT, từ đó đã đề cập đến nhiệm vụ của công chức làm công tác kiểm tra thuế là rất nặng nề, phức tạp, nhiều cám dỗ; hiệu quả công tác kiểm tra thuế phụ thuộc nhiều vào ý thức trách nhiệm, năng lực chuyên môn của công chức. Cuối cùng, tác giả đã đưa ra 06 nhóm kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công chức làm công tác kiểm tra thuế. - Luận văn thạc sỹ kinh tế của Mai Việt Dũng (2017) “Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang”. Đề tài này hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với NNT tại chi cục thuế huyện Vị Xuyên.