Chương 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC KIỂM TRA KIỂM SOÁT THUẾ 1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ 1. Khái niệm Thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của nhà nước. Thuế phát sinh, tồn tại và phát triển từ sự xuất hiện của sản phẩm thặng dư và sự hình thành nhà nước. Nhà nước sử dụng thuế làm công cụ để thực hiện các chức năng của mình.
Mỗi nhà nước mang bản chất giai cấp nhất định nên thuế mang bản chất giai cấp của nhà nước sinh ra nó. Khoản tiền thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế mà một phần tiền thuế đã nộp được hoàn trả gián tiếp thông qua việc nhà nước cung cấp những hàng hoá công cộng như an ninh, quốc phòng, đầu tư cơ sở hạ tầng, phúc lợi về văn hoá, y tế, giáo dục… Tuy vậy, xét về góc độ khái niệm, nhìn nhận về thuế chưa có một sự thống nhất tuyệt đối.[16] Từ trước đến nay, nhiều nhà nghiên cứu lý luận, nhà kinh tế đưa ra nhiều định nghĩa về thuế khác nhau do đứng trên các góc độ không giống nhau để xem xét về thuế. Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Để đạt được quyền lực công cộng đó, cần phải có những đóng góp của những người công dân của nhà nước, đó là thuế”.Mác đã viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước”; Ăng ghen cũng đã viết “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế ”.[17] Theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của nước Mỹ đã đưa ra một lời tuyên bố bất hủ trong lịch sử thuế khoá “Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế”.RA Seligman “Thuế là sự đóng góp cưỡng bức của mỗi người cho Chính phủ để trang trải các chi phí vì quyền lợi chung, không căn cứ vào quyền lợi riêng được hưởng”.[9] 5 Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn, trong cuốn từ điển của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.[2] Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ K.Bryu như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”.[1] Ngày nay người ta tương đối thống nhất định nghĩa về thuế như sau: “Thuế là một hình thức đóng góp theo nghĩa vụ do luật định đối với các tổ chức kinh tế và mọi công dân, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Nó được Nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế khách quan nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, điều chỉnh kinh tế và điều hòa thu nhập” [9] Kết hợp những hạt nhân hợp lý của các quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và pháp luật quy định. Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế để phục vụ cho mục tiêu công cộng. Nguồn thu về thuế không được sử dụng cho mục tiêu cá nhân. Bản chất, chức năng của thuế 1.
Bản chất của thuế Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế, những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế, người ta nhận thấy thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác như sau: 6 Thứ nhất: Thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế, tính pháp lý cao. Đặc điểm này đã được thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia. Việc đóng thuế cho nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc đối với công dân.
Mọi công dân làm nghĩa vụ đóng thuế theo những luật thuế được cơ quan quyền lực tối cao quy định và nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế theo những hình thức nhất định. Thứ hai: Mặc dù thuế mang tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng của các vấn đề kinh tế và xã hội của người làm nghĩa vụ đóng thuế, do đó thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố kinh tế và xã hội. Việc xác lập một hệ thống thuế với các loại thuế suất khác nhau trước hết bắt nguồn từ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, song trong thực tế mức động viên qua thuế bao giờ cũng chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, xã hội của một quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử. Yếu tố kinh tế ràng buộc đến chính sách thuế trước hết phải kể đến thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia, cơ cấu kinh tế và thực tiễn vận động của cơ cấu kinh tế đó cũng như chính sách, cơ chế quản lý nhà nước.
Cùng với yếu tố đó, còn phải kể đến mức độ chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng kinh tế của mình. Yếu tố xã hội ràng buộc đến chính sách thuế, hệ thống thuế chính là phong tục tập quán của quốc gia, kết cấu giai cấp, cũng như đời sống thực tế của các thành viên trong từng giai đoạn lịch sử. Ngoài những yếu tố kinh tế - xã hội nội tại của quốc gia cũng cần phải quan tâm đến yếu tố mở cửa, hội nhập với các quốc gia trên thế giới khi hoạch định, ban hành chính sách thuế. Thứ ba: Thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó, như là khoản vay, mượn. Nó sẽ hoàn trả lại cho người nộp thuế thông qua cơ chế đầu tư của ngân sách nhà nước cho việc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng. Chức năng của thuế Chức năng của một sự vật hay đối tượng nào đó là sự thể hiện công dụng vốn có của nó. Đối với một phạm trù kinh tế, chức năng phản ánh bản chất sự tác động 7 vốn có của nó, là phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có của phạm trù.
Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối của nó trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng. Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính vốn có của các quan hệ tài chính. Tuy nhiên, thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng của mình bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính. Mặc dù chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của thuế, nhưng thông qua quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy thuế luôn thực hiện hai chức năng: Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước và chức năng điều chỉnh.
Hệ thống thuế, phân loại thuế, các yếu tố cấu thành một sắc thuế 1. Hệ thống thuế Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế, phương pháp thu nộp thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định. Để xây dựng một hệ thống thuế hoàn chỉnh và hợp lý, điều cần thiết là phải xác định rõ mục tiêu và nhiệm vụ của hệ thống chính sách thuế ở thời kỳ đó. Bởi vì mỗi hệ thống chính sách thuế có vị trí lịch sử trong một thời kỳ nhất định, nó chỉ có thể đáp ứng mục tiêu - nhiệm vụ kinh tế xã hội và chính trị ở giai đoạn nào đó, hệ thống thuế có tác dụng tích cực ở thời kỳ này nhưng ở giai đoạn khác nó trở thành lạc hậu, có nguy cơ gây nên sự trì trệ, cản trở sự phát triển của nền kinh tế.
Bất kỳ ở thời kỳ nào cũng đòi hỏi hệ thống chính sách thuế phải đảm bảo được sự công bằng và hợp lý; phải tạo được nguồn thu quan trọng cho NSNN; phải thực sự đi vào đời sống kinh tế - xã hội, kích thích sự tăng trưởng của nền kinh tế xã hội, ngoài ra còn đòi hỏi hệ thống chính sách thuế không phức tạp, cồng kềnh, phải làm cho mọi người dễ hiểu, người nộp thuế và người thu thuế thực hiện và chấp hành thuận lợi nhất. Phân loại thuế Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Tuỳ thuộc vào cơ sở, mục đích phân định để hình thành các cách phân loại khác nhau, thông thường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau: */ Phân loại dựa vào phương thức đánh thuế: Theo cách phân loại này thì căn cứ vào phương pháp đánh thuế trực tiếp hay gián tiếp vào thu nhập mà người ta chia hệ thống thuế thành hai loại: - Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của NNT. Thuế trực thu có đặc điểm là ĐTNT theo luật quy định đồng nhất với đối tượng trả thuế.
NNT theo luật cũng là người trả thuế cuối cùng trong một chu kỳ SXKD. Nói một cách khác, thuế trực thu làm cho khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác trở nên khó khăn hơn. Về nguyên tắc, thuế này mang tính chất thuế tính luỹ tiến vì nó tính đến khả năng thu nhập của NNT. Loại thuế trực thu thường bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được.
Ở nước ta, thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiêp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN).