Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thanh tra thuế đối với các doanh nghiệp. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng thanh tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh ắc Kạn Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh ắc Kạn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TRA THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 1.
Cơ sở lý luận về thanh tra thuế tại các doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế 1. Khái niệm, đặc điểm của thuế Thuế là gì? Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nào trên thế giới thống nhất về thuế. Đứng ở các góc độ khác nhau của các nhà kinh tế khác nhau lại có một khái niệm khác nhau về thuế.
Một trong những khái niệm phổ biến về thuế đó là “Thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức và các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung”. Ngoài ra còn có khái niệm khác “Thuế là một khoản phí tài chính bắt buộc hoặc một số loại thuế khác áp dụng cho ngư i nộp thuế (một cá nhân hoặc pháp nhân) phải trả cho một tổ chức chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau”. Thuế được áp dụng lần đầu tiên ở Ai Cập cổ đại vào khoảng năm 3000- 2900 TCN, nếu không trả tiền hoặc trốn thuế chống lại việc nộp thuế s bị phạt theo quy định của Pháp luật. Theo tác giả Đặng Văn Dân (2018) trong cuốn Giáo trình thuế, NX Tài chính thì thuế được định nghĩa trên 3 góc độ: Góc độ kinh tế học:“Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước” (Đặng Văn Dân (2018), Giáo trình thuế, NXB Tài chính).
Góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Đặng Văn Dân (2018), Giáo trình thuế, NXB Tài chính). 6 Góc độ ngư i nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại” (Đặng Văn Dân (2018), Giáo trình thuế, NXB Tài chính). Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường ịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế có 3 vai trò cơ bản, đó là: huy động nguồn lực tài chính cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; vai trò phân phối lại thu nhập và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. * Thứ nhất, thuế có vai trò huy động nguồn lực tài chính cho NSNN.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất cho NSNN. Tỷ trọng các khoản thu từ thuế thư ng chiếm trên 80% tổng thu của NSNN. Ở nước ta, không tính các khoản thu từ dầu thô, nguồn thu từ thuế cũng thư ng chiếm trên 90% tổng các khoản thu của NSNN trong vòng một thập kỷ trở lại đây. * Thứ hai, thuế có vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thuế có thể được sử dụng như một công cụ nhạy bén góp phần kềm chế lạm phát, ổn định giá cả, kích thích đầu tư tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững. Trư ng hợp lạm phát do nguyên nhân cầu cao làm giá cả tăng cao, Nhà nước có thể dùng biện pháp điều chỉnh tăng thuế làm giảm bớt áp lực tăng cầu giả tạo, trên cơ sở đó điều chỉnh lại cân bằng quan hệ cung cầu. Trư ng hợp lạm phát nảy sinh từ chi phí đẩy thì việc giảm thuế đối với các yếu tố đầu vào là cần thiết để giảm nhẹ áp lực tăng chi phí và tạo điều kiện hạ giá bán sản phẩm, trên cơ sở đó lập lại quan hệ cung cầu, ổn định giá cả thị trư ng. 7 Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển quá nóng, Nhà nước có thể tăng thuế nhằm giảm bớt đầu tư.
Nếu nền kinh tế phát triển trì trệ, Nhà nước giảm thuế s góp phần kích thích đầu tư, kích cầu tiêu dùng làm cho kinh tế hồi phục nhanh hơn. Nhà nước áp dụng chính sách thuế phân biệt giữa các ngành nghề, lĩnh vực, khu vực, vùng lãnh thổ khác nhau có tác dụng phân bổ lại nguồn lực, tạo ưu thế tương đối cho những vùng, khu vực ngành nghề cần ưu tiên phát triển nhằm duy trì hoăc lập lại trạng thái phát triển hài hòa, cân đối của toàn bộ nền kinh tế. * Thứ ba, vai trò phân phối lại thu nhập. Thuế được coi là công cụ sắc bén để phân phối lại sản phẩm xã hội nhằm đạt mục tiêu công bằng xã hội.
Để đạt được những mục tiêu công bằng này nếu nó bao quát được hầu hết đối tượng nộp thuế và phân biệt mức đóng góp thông qua các mức thuế suất khác nhau, đặc biệt là thuế suất lũy tiến theo thu nhập, bảo hộ sản xuất nội địa và duy trì, tăng cư ng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế. Thuế là hàng rào bảo hộ linh hoạt và hiệu quả nhất nhằm điều hòa áp lực cạnh tranh. Nhà nước đánh thuế cao đối với hàng nhập khẩu có tác dụng giảm bớt hoặc triệt tiêu lợi thế giá cả giữa hàng nhập khẩu với hàng sản xuất trong nước. Nhà nước đánh thuế thấp hoặc bằng không đối với hàng nhập khẩu có tác dụng khuyến khích nhập khẩu những hàng hóa cần thiết bù đắp thiếu hụt cho nền kinh tế, đồng th i gây áp lực cần thiết nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho những ngành hàng nội địa tương tự.
Như vậy để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế đúng với chức năng của nó. Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốc gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng" công cụ thuế của mỗi quốc gia đó. Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợp với mục tiêu, đư ng lối phát triển kinh tế - xã 8 hội và là công cụ đắc lực cho việc thực hiện đư ng lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng th i kỳ nhất định. Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thư ng xuyên rà soát mức độ phù hợp của hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình, thực hiện các cải cách thuế kịp th i nếu thấy cần thiết.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thanh tra thuế đối với doanh nghiệp 1. Khái niệm thanh tra thuế Trên thế giới, đa số các nước xác định thanh tra thuế là một hoạt động thanh tra chuyên ngành - hoạt động thanh tra của cơ quan có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực Từ điển uật học (tiếng Đức) giải thích: “thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định – sự tác động có tính trực thuộc” Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với ngư i nộp thuế nhằm kết luận về việc chấp hành các quy định pháp luật thuế; đánh giá ưu điểm - khuyết điểm, góp phần hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý thuế; phòng ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật thuế, nâng cao tính tuân thủ của ngư i nộp thuế… tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của Cơ quan Thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật. Thanh tra thuế được hiểu là hoạt động do Cơ quan quản lý Thuế tiến hành nhằm đánh giá việc chấp hành pháp luật của ngư i nộp thuế, xác minh, kiểm tra, thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định sự tuân thủ pháp luật về thuế của NNT. Thông qua các phương pháp phân tích thông tin, dữ liệu để đánh giá tình hình thực tế của đối tượng thanh tra, hoạt động thanh tra giúp phát 9 hiện, ngăn ngừa và xử lý những vi phạm pháp luật thuế đồng th i góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Hoạt động thanh tra thuế phải tuân thủ theo pháp luật về thanh tra cũng như pháp luật thuế. Nguyên tắc tuân thủ pháp luật đòi hỏi cơ quan thuế và cán bộ thực hiện hoạt động thanh tra thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi quyền hạn mà pháp luật cho phép và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định. Mọi hành vi lạm quyền hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đều bị coi là hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý. Thực hiện nguyên tắc này, chủ thể thanh tra (cơ quan thuế, đoàn thanh tra và các thành viên đoàn thanh tra) khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để kiểm tra, đánh giá, kết luận, kiến nghị những vấn đề thanh tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, kiến nghị thanh tra.
Đối tượng thanh tra (ngư i nộp thuế) phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định của chủ thể thanh tra, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu và giải trình số liệu khi được yêu cầu 1. Đặc điểm của thanh tra thuế đối với doanh nghiệp Thanh tra thuế là một hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý thuế để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước nhằm đánh giá việc chấp hành pháp luật thuế của ngư i nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật thuế dựa trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến ngư i nộp thuế. Thanh tra thuế có phạm vi rộng, thư ng là các vấn đề phức tạp.