phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương. Chương l: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu. Trong chương này trình bảy tổng quan vẻ thuế đối với DN, nội dung công tác kiểm tra thuế đối với DN ngoài quốc doanh va tong quan các nghiên cứu nước ngoài và trong nước. Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế thuế đối với các DN ngoài quốc doanh tại Chỉ cục Thuế TP.
Chương này giới thiệu tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Nha Trang, Tổ chức bộ máy quản lý tại Chi cục Thuế; Kết qua thu thuế tại Chi cục Thuế; Thực trạng công tác kiêm tra thuê đối với các DN ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế; Những thành công và hạn chế trong công tác kiểm tra thuế đối với DN ngoài quốc doanh tại Chỉ cục Thuế TP. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đối với các DN ngoài quốc doanh tại Chỉ cục Thuế TP. Cụ thể, chương này trình bày các giải pháp hoàn thiện xây dựng công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra, công tác kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế và kiểm tra trụ sở NNT chặt chẽ, hiệu quả, tăng cường công tác kiểm tra thuế các DN ngoài quốc doanh. 14 CHUONG 1: CO SO LY THUYET VA TONG QUAN NGHIEN CUU 1.
Tổng quan về thuế và công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm về thuế và vai trò của thuế 1. Khái niệm về thuế Theo Quốc hội (2019), “ Thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy dinh ctia các luật thuế. ” Tuy nhiên, ở các góc nhìn khác nhau, chúng ta có thé rit ra các khái niệm liên quan đến thuế như sau: Xét vẻ góc độ Nhà nước: Thuê là một khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, khoản thu này mang tính chất bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp được pháp luật quy định.
Xét về góc độ người nộp: Thuê là khoản đóng góp mang tính pháp lệnh của Nhà nước, bắt buộc mọi người dân hoặc các tổ chức kinh tế phải thực hiện theo quy định. Xét về nội dung vật chất: Thuế là khoản tiền hay sản vật mà người dân và các tô chức kinh tế phải có nghĩa vụ đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước. Xét về thực thể (ban chất kinh tế): Thuê là là một hình thức phân phối thu nhập được Nhả nước sử dụng đề động viên một phần thu nhập của các to chức kinh tế và cá nhân trong xã hội vào NSNN nhằm thực hiện nhu cau chi tiêu của Nhà nước. 1S Như vậy, thuế là hình thức động viên mang tính bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của Nhả nước bằng các sắc luật do Nhà nước quy định.
Vai trò của thuế Mỗi loại thuế vai trò, tác dụng riêng của từng sắc thuế của nó. Nhưng nhìn chung toản bộ hệ thông thuế trong các cơ chế thị trường có các vai trò cơ bản như sau: a) Lè mặt tài chính, thuế là khoản thu chủ yếu của NSNN. Thuế luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tông thu NSNN. Là nguồn thu chủ yếu của NNSS: Mang tích chất không hoàn trả trực tiếp cho người nộp; Hình thức thu đảm bảo bao quát tất cả các hoạt động SXKD, các nguồn thu nhập và mọi tiêu dùng trong xã hội; Dam bao tinh tự chủ trong cân đối NSNN.
b) Lê mặt kinh tế, thuế là công cụ điêu tiết vĩ mô trong nên kinh tế thị trường. Trong nên kinh tế thị trường hiện nay, Nhà nước có thé điều chỉnh tăng thuế hoặc giảm thuế đối với thu nhập của các tầng lớp dân cư và với DN để nhằm kích thích hoặc hạn chế sự phát triển các lĩnh vực, các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế. Bằng cách thông qua chính sách thuế ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của chủ DN. Trong những năm khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, Nhà nước có thể hạ thấp mức thuế tạo ra những điều kiện thuận lợi kích thích nhu câu tiêu dùng để tăng đầu tư và mở rộng sức sản xuất.
Nhà nước có thẻ điều chỉnh tăng hoặc giảm mức thuế để nhằm giữ vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đã đặt ra. ©) Vé mặt xã hội, thuế là một nguôn thu chủ yếu điều tiết công bằng xã hội. Vai trò là công cụ điều hoà thu nhập đồng thời thực hiện công bằng xã hội của thuế thể hiện rõ trong thuế trực thu. Ví dụ như thuế thu nhập cá nhân 16 được hình thành nhằm đánh thuế vào những người có thu nhập cao.
Như vậy ngoài việc tạo nguồn thu cho NSNN, thuế còn đóng vai trò trong thực hiện công bằng xã hội. Vai trò này còn thé hiện rõ rệt khi sử dụng thuế suất luỹ tiến. Việc điều hoà thu nhập xã hội còn được thé hiện một phần thông qua các sắc thuế gián thu như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. các loại thuế nảy thường đánh rat cao vào những mặt hang, dịch vụ cao cấp nhằm điều tiết bớt thu nhập của các cá nhân có thu nhập tương đối cao so với mức bình quân xã hội.
Tổng quan về công tác kiểm tra thuế 1. Khái niệm Kiểm tra thuế là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động lãnh đạo quản lý nhà nước của CQT. Kiểm tra thuế là hoạt động thông qua tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra dé đánh giá, nhận xét và xử lý của CQT đối với việc thực hiện pháp luật thuế của NNT và công tác quản lý, hành thu, kiểm tra của công chức thuế. Kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng quan trọng của cơ chế quản lý thuế theo mô hình chức năng (uyên truyền hỗ trợ; kề toán và xử lý tờ khai; thu nợ và cưỡng chế; kiếm tra).
Kiểm tra thuế là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm của NNT nhằm giúp NNT nhận thấy có một hệ thống giám sát hiệu quả kịp thời phát hiện các hành vi vị phạm của họ trong việc kê khai nộp thuế. Kiểm tra thuế là việc kiểm tra các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính trên cơ sở các nguyên tắc kế toán, quy định của luật thuế để xác định tính chính xác trong việc kê khai số thuế. phải nộp của NNT. Đặc điểm của kiểm tra thuế Kiểm tra thuế có phạm vi rộng: Đỗi tượng kiểm tra là các tổ chức, cá nhân trong ngành thuế, là NNT thuế bao gồm mọi tô chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế.
Kiểm tra thuế là một công tác rất khó khăn, phức tạp: Hoạt động kiêm tra thuế nó động chạm trực tiếp tới lợi ích kinh tế của NNT. Để che dấu các hành vi trồn thuế nhằm bảo vệ lợi ích vật chất của mình, NNT thường tìm mọi biện pháp nhằm cán trở hoặc gây khó khăn cho công tác kiểm tra của CQT. Kiểm tra thuế đòi hói rất cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người công chức: Người công chức thuế làm công tác kiểm tra thuế không chi nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng được kiểm tra. người công chức kiểm tra thuế phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng, vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ vẻ vật chat.
Vai trò của kiễm tra thuế Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kiêm tra thuế có vai trò quan trọng đối với quản lý thuế, đặc biệt là trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế hiện nay. Thứ nhất, kiểm tra thuế là phương tiện phát hiện, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế. Thứ hai, kiêm tra thuế góp phần hoàn thiện cơ ché chính sách pháp luật vẻ thuế, là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thê dé phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực tế, để phục vụ cho việc hoàn thiện, bỏ sung các chính sách của Nhả nước. Thứ ba, kiêm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện.
18 Thứ tư, kiểm tra thuế góp phần tăng cường pháp chế XHCN. Những hành vi ví phạm pháp luật sẽ bị xử phạt thích đáng. Khi phát hiện ra những sai sót hay vi phạm của NNT, công chức kiểm tra phải xử lý bằng các hình thức xử phạt nghiêm minh để NNT thấy rằng bất cứ ai cũng phải tuân thủ pháp luật. Việc xử lý đúng người, đúng tội sẽ nâng cao được hiệu lực của luật thuế.
Kiểm tra thuế là công tác rất quan trọng, nên cần tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ các quy định của pháp luật: Đây là nguyên tắc quan trọng để nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế, đề cao trách nhiệm của chủ thẻ kiểm tra, ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật. Do vậy, hoạt động của kiểm tra thuế đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Thứ hai, nguyên tắc đảm bảo trung thực, chính xác, khách quan: Đây là nguyên tắc phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng: cân thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn, vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân.
Nguyên tắc chính xác và khách quan nhằm để đảm bảo đánh giá đúng thực trạng, tình hình của ĐTNN được kiểm tra, đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không suy điễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng: phản ánh đúng sự thật, không thiên vị hoặc bóp méo sự việc, giúp cho việc xử lý các sai phạm đúng người, đúng việc, đúng pháp luật. Thứ ba, nguyên tắc công khai, dân chủ: Đây là nguyên tắc thể hiện ở việc phải thông báo đầy đủ nội dung kiểm tra, tiếp xúc công khai với đối tượng kiểm tra và người có liên quan, tuỳ theo tính chất từng vụ việc mà có thê công khai kết luận kiểm.