Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ trên địa bàn huyện của thành phố Hải Phòng; Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ trên địa bàn huyện An Dương giai đoạn 2012-2016; Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ trên địa bàn huyện An Dương giai đoạn 2017-2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1. Khái niệm về công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp Ngành thuế Việt Nam thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp, theo đó người nộp thuế (NNT) được quyền tự tính, tự khai, tự nộp thuế vào Ngân sách nhà nước (NSNN); cơ quan thuế tôn trọng kết quả tự tính, tự khai, tự nộp thuế của NNT, hỗ trợ NNT tự giác thực hiện tốt các quy định của pháp luật thuế. Bên cạnh đó, cơ quan thuế cũng thực hiện việc kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật thuế thông qua hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế.
Kiểm tra, thanh tra thuế là một loại hình thanh tra chuyên ngành. Có thể hiểu, kiểm tra, thanh tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá xử lý của cơ quan thuế đối với việc thực hiện pháp luật thuế của tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Trong thực tế, hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế có mối quan hệ mật thiết với nhau, việc phân định hai hoạt động này chỉ là tương đối, thể hiện qua một số nội dung sau: * Một số điểm giống nhau giữa kiểm tra, thanh tra thuế: - Về mục đích: ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế, thúc đẩy NNT tự giác tuân thủ pháp luật thuế, qua đó kiến nghị hoàn thiện cơ chế quản lý thuế. - Về đối tượng: là NNT nói chung, bao gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
- Về nội dung: kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của NNT. - Về phương pháp: đều xem xét hoạt động thực tế của NNT được kiểm tra, thanh tra để phân tích, đánh giá một cách chính xác, khách quan đúng thực trạng của NNT, phát hiện và xử lí các vi phạm, đồng thời chỉ ra nguyên nhân để NNT có biện pháp khắc phục. * Một số điểm khác nhau giữa kiểm tra, thanh tra thuế: 5 - Về chủ thể: chủ thể của thanh tra thuế là bộ phận chuyên trách về công tác thanh tra thuộc cơ quan thuế; chủ thể của kiểm tra thuế thường đa dạng hơn so với chủ thể của thanh tra thuế, bao gồm bộ phận thanh tra thuế, bộ phận kiểm tra thuế và các bộ phận chức năng khác. - Về phạm vi hoạt động thanh tra thuế thường có phạm vi rộng, diễn ra liên tục, ở nhiều khâu với hình thức đa dạng, còn phạm vi hoạt động của kiểm tra thuế thường hẹp hơn.
Thanh tra thuế thường có sự chọn lọc, đôi khi thông qua kiểm tra thuế có thể thấy những dấu hiệu phức tạp mà nếu cứ tiến hành kiểm tra thuế thì không làm rõ được, bởi vậy, cần lựa chọn nội dung để thực hiện thanh tra thuế. - Về thời gian: thời gian để tiến hành một cuộc thanh tra thuế thường dài hơn so với thời gian một cuộc kiểm tra thuế do tính chất các vụ việc tiến hành của thanh tra thuế thường phức tạp, tinh vi hơn. - Về hình thức tổ chức: Đoàn thanh tra có thể tổ chức thành các tổ để đi sâu vào từng nội dung thanh tra. - Về biện pháp áp dụng: thanh tra được áp dụng các biện pháp mạnh hơn (tạm giữ tang vật, tài liệu; khám nơi cất dấu tang vật, tài liệu - theo quy định của Luật quản lý thuế).
Vai trò của công tác kiểm tra thuế trong quản lý thuế Nhà nước thực hiện quản lý thuế thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách, chế độ quản lý để điều chỉnh, thậm chí có thể cưỡng chế các tổ chức, cá nhân trong xã hội phải tuân thủ nhằm bảo vệ các lợi ích của Nhà nước. Kiểm tra thuế thuế đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu của cơ quan thuế, đó là chống thất thu thuế, phát hiện và xử lý các gian lận, sai sót, khuyến khích NNT tuân thủ tự nguyện, phát hiện ra những bất cập của chính sách thuế, quản lý thuế để kiến nghị sửa đổi cho phù hợp.Thực tiễn cho thấy, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế tùy thuộc vào nội dung, chất lượng và biện pháp tổ chức thực hiện các quyết định của cơ quan thuế. Để các quyết định của cơ quan thuế được NNT tuân thủ và chấp hành một cách chính xác, đầy đủ, cơ quan thuế phải xây dựng, ban hành hệ thống quy trình quản lý thuế, trong đó có hoạt động kiểm tra 6 thuế. Nhìn chung, công tác kiểm tra thuế có những vai trò chủ yếu sau đây:[8, tr32] 1.
Vai trò đối với cơ quan thuế - Kiểm tra thuế là một công cụ quan trọng và hiện hữu để đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm túc, quyền và lợi ích Nhà nước, của NNT được bảo đảm. Kiểm tra thuế nhằm kiểm soát việc chấp hành pháp luật thuế của NNT, giúp phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế. - Kiểm tra thuế nhằm đánh giá, nhận xét tình hình chấp hành pháp luật thuế và các kết quả thực hiện quyết định quản lý thuế, làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm thuộc khâu nào, thuộc cá nhân nào để chấn chỉnh hoặc xử lý (khi có hành vi vi phạm), từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế. - Kiểm tra thuế góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế.
- Kiểm tra thuế nhằm hạn chế trốn - tránh, gian lận thuế. Hiện nay, một số NNT cố tình trốn - tránh nghĩa vụ khai, nộp thuế với các thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp. Kiểm tra thuế giúp minh bạch và kiểm soát các hành vi này tiền thuế không bị thất thoát, chiếm dụng, đồng thời góp phần hạn chế hành vi gian lận thuế, nâng cao ý thức tự nguyện của NNT trong việc đóng góp đầy đủ tiền thuế, tăng thu cho NSNN. - Kiểm tra thuế đảm bảo NNT chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật thuế: Theo quy định của Luật Quản lý thuế, NNT tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Trong thực tế, bên cạnh những NNT tuân thủ pháp luật thuế vẫn còn NNT chưa tự giác tuân thủ. Vì vậy, thông qua kiểm tra thuế, cơ quan thuế sẽ phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, buộc NNT có ý đồ không tuân thủ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, kê khai, nộp thuế đầy đủ với NSNN cũng như ngăn chặn, làm nản lòng những NNT đang có ý đồ trốn - tránh thuế. Kiểm tra thuế phản ánh những hành vi vi phạm của NNT, xác định rõ nguyên nhân chủ quan (cố tình vi phạm), hay khách quan (hệ thống luật pháp bất cập) dẫn đến vi phạm của NNT để có các 7 biện pháp xử lý kịp thời các hành vi gian lận về thuế, góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực thi pháp luật về thuế. - Kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thuế.
Thông qua kiểm tra thuế sẽ phát hiện những hạn chế chưa đồng bộ về chính sách thuế, cơ chế quản lý thuế trong thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội, từ đó kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền kịp thời bổ sung, hoàn thiện. - Thông qua kiểm tra NNT có điều kiện nhìn nhận lại thực trạng khách quan về tình hình tài chính, tình hình kê khai, thực hiện nghĩa vụ với NSNN, chế độ sổ sách kế toán…, những ưu điểm và hạn chế để NNT kiểm soát tình hình tài chính hiệu quả hơn, nâng cao tính tuân thủ pháp luật pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng. Vai trò đối với người nộp thuế Kiểm tra thuế tạo nên sự bình đẳng giữa NNT trong sản xuất kinh doanh, giúp NNT có môi trường kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh bình đẳng. Thông qua kiểm tra thuế, cơ quan thuế sẽ kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật thuế và xử lý vi phạm trong phạm vi thẩm quyền của mình, làm cho môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bình đẳng hơn, tạo niềm tin vào tính nghiêm minh của pháp luật.
Một số NNT ít có cơ hội lợi dụng việc chiếm dụng, trốn thuế để thao túng thị trường, cạnh tranh bất bình đẳng về giá, thị phần… Khi mọi NNT đều phải công khai, minh bạch nghĩa vụ đóng góp của mình cho NSNN sẽ góp phần tạo được sự công bằng, cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Tóm lại, công tác kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế, là một trong những công cụ để thực thi pháp luật thuế. Cơ quan thuế không thể đạt được mục tiêu quản lý của mình nếu thiếu chức năng kiểm tra thuế. Mục tiêu và nguyên tắc của công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp 1.
Mục tiêu của kiểm tra thuế Hoạt động kiểm tra thuế nhằm giúp NNT và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách đảm 8 bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành. Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của NNT và người thu thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực. Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra, cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các biện pháp cụ thể để thực hiện, đưa Luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp lý hơn. [15,tr67- 69] Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ NNT nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế; đồng thời nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ.