CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ HỆ THỐNG THUẾ ĐIỆN TỬ 1. Những vấn đề cơ bản về thuế 1. Khái niệm thuế Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này.
Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản. Mác đã chỉ rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế má. Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.
Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn “Kinh tế học” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật” (Makkollhell and Bruy, 1993, tr 14). Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển nhất: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước” (Gaston Jeze, 1934). Ở nước ta đến nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế. Theo từ điển tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học (2003) (Viện ngôn ngữ học, 2003, tr 963) thuế 9 là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp.
buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức qui định. Mặc dù còn nhiều các định nghĩa khác nhau, song có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng (Nguyễn Thị Liên, 2010, tr 5). Đặc điểm của thuế Về cơ bản, thuế có các đặc điểm sau (Nguyễn Thị Liên, 2010, tr 5 - 7): Tính không hoàn Tính bắt buộc trả trực tiếp Tính pháp lý Hình 1. Đặc điểm của thuế Nguồn: Giáo trình thuế, 2010.
- Tính bắt buộc Thuế được coi là nghĩa vụ đối với công dân. Người nộp thuế có nghĩa vụ phải chuyển giao một phần thu nhập của bản thân cho Nhà nước mà không kèm sự đòi hỏi hoặc những quyền lợi khác cho người nộp thuế. Tính bắt buộc của thuế không mang nội dung hình sự, nghĩa là việc đóng thuế cho Nhà nước không phải là kết quả nảy sinh từ hành vi phạm pháp mà là nghĩa vụ đóng góp được pháp luật thừa nhận và xã hội tôn vinh. 10 - Tính không hoàn trả trực tiếp Theo giáo trình thuế, tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở các đặc điểm sau: Trước khi thu thuế, Nhà nước không hứa hẹn cung ứng trực tiếp dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế.
Sau khi nộp thuế, Nhà nước không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Lợi ích từ việc nộp thuế sẽ được hoàn trả gián tiếp thông qua dịch vụ công cộng của Nhà nước cho cộng đồng và xã hội. - Tính pháp lý Tính pháp lý được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước.
Tính pháp lý được thể hiện thông qua các quy định cần thiết về phạm vi, hình thức, thủ tục, quy trình pháp lý liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và các chế tài mang tính cưỡng chế khác. Vai trò của thuế đối với nền kinh tế quốc dân Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Điều tiết kinh tế vĩ mô Điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội Hình 1. Vai trò của thuế Nguồn: Giáo trình thuế, 2010 11 - Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước: Đối với các quốc gia, thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng. Nhờ khoản thu từ thuế, ngân sách Nhà nước có thể đáp ứng được yêu cầu cho chi tiêu, đồng thời thỏa mãn yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập.
Việc đáp ứng đồng thời các yêu cầu đòi hỏi Nhà nước phải tính toán kỹ, bởi nguồn thu của thuế xuất phát từ chính năng lực sản xuất của xã hội. Do vậy, khi có sự điều chỉnh về thuế, cần cân nhắc thận trọng mối quan hệ giữa thuế với mối quan hệ kinh tế - xã hội (Nguyễn Thị Liên, 2010, tr 8-11). - Điều tiết kinh tế vĩ mô: Cơ sở của vai trò này xuất phát từ khả năng tái phân phối của cải vật chất trong nền kinh tế. Thuế có thể được sử dụng như một công cụ góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá, giá cả, kích thích hoạt động đầu tư tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Ngoài ra, thuế còn được coi là công cụ để bảo hộ sản xuất nội địa, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế (Nguyễn Thị Liên, 2010, tr 8-11). - Điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội: Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước bằng các chính sách tiền tệ, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải vật chất và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao, tạo ra hai trạng thái đối lập: chỉ có số ít người giàu lên, còn đại bộ phận dân chúng sẽ nghèo khó. Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả một công đồng, sẽ không công bằng nếu không chia sẻ thành quả phát triển cho mọi người. Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào qúa trình phân phối thu nhập bằng công cụ thể (Nguyễn Thị Liên, 2010, tr 8-11).
Phân loại thuế Theo Giáo trình thuế (Nguyễn Thị Liên, 2010, tr 11 – 14), có nhiều tiêu thức để phân loại thuế: 12 Thuế Phương thức đánh Phạm vi thẩm quyền Đối tượng chịu thuế thuế về thuế Thuế Thuế thu Thuế Thuế tài Thuế Thuế Thuế địa trung nhập tiêu dùng sản trực thu gián thu phương ương Hình 1. Phân loại thuế Nguồn: Giáo trình thuế, 2010 1. Phân loại theo đối tượng chịu thuế - Thuế thu nhập: gồm các sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhận được. Thu nhập này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, ví dụ từ hoạt động lao động, từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do vậy, thuế thu nhập cũng có nhiều hình thức khác nhau: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty. - Thuế tiêu dùng: là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là phần thu nhập được mang tiêu dùng trong hiện tại, có nhiều dạng như thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng. - Thuế tài sản: là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản. Thuế tài sản thường đánh trên giá trị của tài sản cố định gọi là thuế bất động sản, đánh trên tài sản chính gọi là thuế động sản.
Phân loại theo phương thức đánh thuế - Thuế trực thu: Loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế. Khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế của người nộp thuế cho người khác trở nên khó khăn vì người nộp thuế trực thu là người trả thuế cuối cùng. Thuế trực thu thường bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập nhận được như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp. 13 - Thuế gián thu: Loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ.
Người sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ cộng thêm phần thuế vào trong giá bán và dịch vụ của mình. Khi hàng hóa, dịch vụ được bán, người sản xuất thay mặt người tiêu dùng nộp khoản thuế gián thu cho nhà nước. Thuế gián thu bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu và nhập khẩu. Phân loại theo phạm vi thẩm quyền về thuế Theo phạm vi và thẩm quyền trong việc ban hành chính sách, chế độ thuế, hệ thống thuế có thể được chia thành thuế trung ương và thuế địa phương.
Thuế trung ương là hình thức thuế do cơ quan đại diện chính quyền nhà nước ở trung ương ban hành, thuế địa phương là do chính quyền địa phương ban hành. Thuế trung ương có thể nộp vào ngân sách trung ương và một phần thuế trung ương được trích vào ngân sách địa phương. Khái niệm hệ thống thuế Hệ thống thuế là tập hợp các loại thuế và khoảng các loại phí và lệ phí được quản lý tập trung. Nhờ hệ thống thuế, Nhà nước cũng như địa phương có các khoản kinh phí để thực hiện các hoạt động phục vụ phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, đảm bảo các lợi ích về vật chất và tinh thần cho người dân.
Những vấn đề cơ bản về hệ thống thuế điện tử 1. Khái niệm hệ thống thuế điện tử Tiếp cận góc độ quản lý, thuế điện tử (eTax) là hệ thống thay thế cho hệ thống khai thuế truyền thống bằng hệ thống điện tử (phần mềm) với đầy đủ chức năng, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế tiếp cận hệ thống một cách dễ dàng, phân hệ khai thuế, nộp thuế dễ dàng một cách trực tiếp thông qua các phương tiện điện tử mà không cần phải đến trực tiếp. Hệ thống thuế điện tử (eTax) là việc doanh nghiệp thực hiện các thao tác, nghĩa vụ liên quan đến thuế (đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế.) trên máy vi tính của mình và gửi tới cơ quan quản lý thuế thông qua mạng internet, thay vì phải đến giao dịch trực tiếp với cơ quan thuế (Đinh Thị Hòa, 2016, tr 72).