CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Mức độ quan tâm và các hướng nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế Nghiên cứu về thuế có thể được tiếp cận từ các lĩnh vực đa ngành như luật, kinh tế, kế toán, tâm lý học và tài chính công (McKerchar, 2010). Trong đó, nghiên cứu của Groves (1958) về trốn thuế thu nhập là một trong những nghiên cứu được ghi nhận sớm nhất trong nghiên cứu về hành vi của người nộp thuế. Groves (1958) tiếp cận gián tiếp để đánh giá hành vi trốn thuế bằng cách phỏng vấn những người thuê nhà về thu nhập và chi phí mà chủ nhà của họ phải chịu trong quá trình quản lý căn hộ của họ.
Sau đó, ông có thể kiểm tra các tờ khai thuế của chủ nhà để xác định mức độ tuân thủ thuế của chủ nhà. Từ đó đến hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành vi tuân thủ của người nộp thuế đã thực hiện trên thế giới với mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau (Xem bảng 2 – Phụ lục 01). Ở Việt Nam, chủ đề nghiên cứu về tuân thủ thuế cũng được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam thực hiện trong các công trình nghiên cứu của mình: Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) thực hiện luận án tiến sỹ kinh tế với đề tài về “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (nghiên cứu tình huống của Hà Nội)”; Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân (2012) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp tư nhân - Xét trên khía cạnh nộp thuế đúng hạn”; Nguyễn Hoàng và Đào Thị Phương Liên (2013) với nghiên cứu về “Ảnh hưởng của chính sách thuế đến tuân thủ thuế: Kết quả khảo sát và một số kiến nghị”; Đặng Thị Bạch Vân (2014) với chủ đề nghiên cứu “Xoay quanh vấn đề người nộp thuế và tuân thủ thuế”; Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu (2015) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp”; Lèng Hoàng Minh (2017) với luận án tiến sĩ về “Nâng cao tính tuân thủ thuế của người nộp thuế ở Việt Nam; Bùi Ngọc Toản (2017) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập của doanh nghiệp - Nghiên cứu thực nghiệm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”; Phạm Thị Mỹ Linh (2019) với luận án tiến sĩ nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội”; Nguyễn Thị Thùy Dương và cộng sự (2019) trong nghiên cứu về “Determinants Influencing Tax Compliance: The Case of Vietnam;. Bên cạnh đó, hiểu một cách giản đơn thì tuân thủ thuế là mức độ sẵn sàng đóng thuế của người nộp thuế; không tuân thủ thuế có thể hiểu là khi người nộp thuế không nộp thuế của mình (Kirchler, 2007).
Theo Kirchler và Wahl (2010), tuân thủ và không 10 tuân thủ có thể được phân biệt: (i) tuân thủ thuế gồm tuân thủ thuế tự nguyện và tuân thủ thuế bắt buộc; (ii) không tuân thủ thuế bao gồm trốn thuế và tránh thuế (Xem bảng 2. Trong đó, tuân thủ tự nguyện bao gồm động cơ cơ bản, cụ thể là trên đó coi việc nộp thuế là nghĩa vụ của một công dân, trong khi việc tuân thủ bắt buộc liên quan đến nỗi sợ bị phát hiện và bị trừng phạt. Tránh thuế có thể được mô tả là việc giảm thiểu thuế trong ranh giới pháp lý, và trốn thuế bao gồm cả việc vi phạm pháp luật (Cechovsky, 2018). Dựa trên góc độ tiếp cận này, kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu mà tác giả có thể tiếp cận được từ năm 1992 đến năm 2021, chỉ ra hướng nghiên cứu về tuân thủ thuế được thực hiện nhiều hơn so với hướng nghiên cứu về không tuân thủ thuế (Khi có đến 48/63 công trình mà tác giả có thể thu thập nghiên cứu về tuân thủ thuế - Xem bảng 1 của Phụ lục 01), nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế tự nguyện và tuân thủ thuế bắt buộc được thực hiện nhiều từ năm 2012-2021; và các công trình nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế được thực hiện ở nhiều quốc gia, cả ở các nước phát triển và các nước đang phát triển (Mỹ, Áo, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ý, Malaysia, Indonesia, Jordan, Ghana, Campuchia, Việt Nam.) Với các công trình nghiên cứu về tuân thủ thuế, hướng nghiên cứu của các tác giả cũng rất đa dạng và có sự kế thừa, nghiên cứu bổ sung các khía cạnh liên quan đến tuân thủ thuế.
Trong đó, hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định, hành vi tuân thủ thuế được nhiều nghiên cứu thực hiện (Xem bảng 1 – Phụ lục 01) và cũng có những nghiên cứu hướng đến làm rõ về hành vi tuân thủ thuế (Arcos Holzinger và cộng sự, 2016; Alm và cộng sự, 2016), xây dựng thang đo đo lường về hành vi tuân thủ thuế (Kirchler and Wahl, 2010) hay như đánh giá, so sánh về tuân thủ thuế ở nhiều hoặc giữa các quốc gia (Mas’ud và cộng sự, 2019; Alm và cộng sự, 2016; Mas’ud và cộng sự, 2014; Natrah Saad, 2012; Alan Lewis và cộng sự, 2009). Về sắc thuế, thì hướng nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế theo sắc thuế cũng khá đa dạng như thuế thu nhập doanh nghiệp (Bùi Ngọc Toản, 2017; Gobena và cộng sự, 2016), thuế giá trị gia tăng (Azmi và cộng sự, 2016; Harju và cộng sự, 2019; Xin He và Huina Xiao, 2019; Fjeldstad và cộng sự, 2020; Alshira’h và cộng sự, 2020) hay thuế thu nhập (Khasawneh và cộng sự, 2008) (Xem bảng 1 – Phụ lục 01) Về đối tượng nộp thuế: bên cạnh đối tượng nghiên cứu là cá nhân, người nộp thuế (Alm và cộng sự ,2010; Benk và cộng sự, 2010; Lèng Hoàng Minh, 2017; Da Silva và cộng sự, 2019, Robbins và Kiser, 2020,.) thì các nghiên cứu về tuân thủ thuế cũng đa dạng về đối tượng nghiên cứu như các doanh nghiệp lớn (Siglé và cộng sự, 2018) cũng như các doanh nghiệp nói chung (Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009; Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu, 2015; Bùi Ngọc Toản, 2017; Phạm Thị Mỹ Linh, 2019; 11 Nguyễn Thị Thùy Dương và cộng sự, 2019), hay như doanh nghiệp vừa và nhỏ (Malik và Younus, 2020; Alshira’h và cộng sự, 2020), doanh nghiệp siêu nhỏ (Abba Ya’u, Natrah Saad, 2019) doanh nghiệp khởi nghiệp (Nagel và cộng sự, 2018), doanh nghiệp tư nhân (Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân, 2012), cá nhân tự kinh doanh (Eichfelder và Kegels, 2014; Olsen và cộng sự, 2018; Choo và cộng sự, 2016) hay như đại lý thuế (Abdul Hamid, 2014), chuyên gia tư vấn thuế (Darmayasa và Aneswari, 2015), nhân viên thuế (Fagbemi và cộng sự, 2010). Tuy nhiên, từ với đối tượng hộ KD cá thể (làm nghề và kinh doanh nghề nghề tại các làng nghề) thì chưa được nghiên cứu nào thực hiện và đây là một khoảng trống trong nghiên cứu về tuân thủ thuế. Trong khi đó, Ở Việt Nam với đối tượng nghiên cứu là hộ kinh doanh cá thể thì hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể nói chung và hộ KD cá thể trong các làng nghề chưa từng được nghiên cứu trước và là khoảng trống trong nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế.
Bởi vì hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào khía cạnh quản lý thuế. Như tác giả Lê Kim Ngọc (2016) với đề tài “Hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội”. Tác giả đã phân tích được thực trạng và chỉ ra những ưu, nhược điểm trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Hoàng Mai. Luận văn cũng nhấn mạnh những nguyên nhân chính dẫn đến một số bất cập trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể.
Từ đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp cụ thể đó là: Nâng cao hiệu lực bộ máy quản lý thuế bằng cách nâng cao chất lượng công tác xây dựng kế hoạch dự toán thu Ngân sách hàng năm, khai thác triệt để nguồn thu, chống thất thu; Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, thực hiện sắp xếp lại nhiệm vụ giữa các đội trong công tác xác định doanh thu, mức thuế của hộ kinh doanh; Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; Nguyễn Thị Biên (2017) với đề tài “Tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp khoán trên địa bàn huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội”. Luận văn đã trình bày khá đầy đủ và chi tiết cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, bao gồm: Khái niệm, phân loại, vai trò của thuế; Khái niệm đặc điểm và vai trò của hộ kinh doanh cá thể; Quan niệm, đặc điểm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể. Dựa trên dữ liệu thu thập được, tác giả đã có nhưng đánh giá về thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp khoán tại địa phương. Từ đó, những nhóm giải pháp được đưa ra là: Đổi mới mục tiêu, hoàn thiện tổ chức bộ máy trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể; Hoàn thiện các công cụ và ứng dụng các 12 phương pháp hiện đại trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thu thuế và ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của hộ kinh doanh cá thể; Nguyễn Thị Thủy (2017) với bài báo “Thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh”.
Bài báo đã chỉ ra được những hạn chế trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh như: Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế và nợ đọng thuế gây thất thu NSNN vẫn diễn ra thường xuyên, chưa khuyến khích được ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế; Hạn chế từ công tác xác định mục tiêu, đối tượng quản lý thuế và công tác tổ chức bộ máy thu thuế cho đến việc thực hiện các quy trình kiểm tra, thanh tra quản lý thuế của cơ quan thuế.