Luận án tiến sĩ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở việt nam

Chuyên khảo Yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể ở làng ngh phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

241
19
1

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do lựa chọn đề tài

1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Đóng góp của luận án

1.5. Kết cấu luận án

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Mức độ quan tâm và các hướng nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế

2.2. Các lý thuyết, mô hình nghiên cứu liên quan đến hành vi tuân thủ thuế

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế

2.4. Thống kê về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế

2.5. Tổng quan về mối quan hệ giữa các yếu tố và hành vi tuân thủ thuế

2.6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng trong nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế

2.7. Kết luận rút ra từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan và hướng nghiên cứu của đề tài

2.7.1. Các nội dung kế thừa

2.7.2. Khoảng trống nghiên cứu

2.7.3. Hướng nghiên cứu của luận án

3. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1. Cơ sở lý luận chung về thuế

3.1.1. Khái niệm về thuế

3.1.2. Đặc điểm về thuế

3.1.3. Cơ sở thuế, thuế suất và cấu trúc thuế suất

3.1.4. Phân loại thuế

3.1.5. Hệ thống thuế

3.2. Khái niệm, bản chất và phân loại về tuân thủ thuế

3.2.1. Khái niệm, bản chất về tuân thủ thuế

3.2.2. Phân biệt tuân thủ thuế và không tuân thủ thuế

3.2.3. Phân loại tuân thủ thuế

3.3. Các lý thuyết, mô hình nền tảng trong nghiên cứu về tuân thủ thuế

3.3.1. Lý thuyết răn đe kinh tế và mô hình Allingham và Sandmo (1972)

3.3.2. Lý thuyết tâm lý học tài chính

3.3.3. Lý thuyết thể chế

3.3.4. Lý thuyết công bằng

3.3.5. Lý thuyết tâm lý xã hội

3.3.6. Lý thuyết hành động hợp lý và lý thuyết hành vi có kế hoạch

3.3.7. Mô hình Fischer về tuân thủ thuế

3.3.8. Mô hình khung sườn dốc trơn trượt về tuân thủ thuế

3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế

3.4.1. Chính sách, pháp luật thuế

3.4.2. Hoạt động quản lý thuế của cơ quan thuế

3.4.3. Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của công chức thuế

3.4.4. Cơ sở vật chất và kỹ thuật của cơ quan thuế

3.4.5. Nhóm yếu tố thuộc về người nộp thuế

3.4.6. Sự phát triển của hệ thống đại lý thuế

3.4.7. Đặc điểm môi trường kinh tế - xã hội

3.5. Mô hình nghiên cứu

3.5.1. Căn cứ xây dựng mô hình

3.5.2. Mô hình nghiên cứu

3.5.3. Giả thuyết nghiên cứu

4. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Quy trình và phương pháp nghiên cứu

4.1.1. Quy trình nghiên cứu

4.1.2. Phương pháp nghiên cứu

4.1.2.1. Nghiên cứu định tính
4.1.2.1.1. Mục tiêu của nghiên cứu định tính
4.1.2.1.2. Mẫu nghiên cứu
4.1.2.1.3. Thu thập và phân tích dữ liệu
4.1.2.1.4. Kết quả phỏng vấn
4.1.2.2. Nghiên cứu định lượng
4.1.2.2.1. Thiết kế phiếu điều tra
4.1.2.2.2. Mẫu ghiên cứu
4.1.2.2.3. Phương pháp thu thập dữ liệu
4.1.2.2.4. Phương pháp phân tích dữ liệu

5. CHƯƠNG 4: BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1. Bối cảnh nghiên cứu

5.1.1. Giới thiệu chung về làng nghề và hộ kinh doanh cá thể

5.1.2. Quy định về thuế với hộ kinh doanh

5.1.3. Thực trạng tuân thủ thuế của hộ kinh doanh

5.2. Kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ KDCT trong các làng nghề ở Việt Nam

5.2.1. Thống kê mô tả mẫu

5.2.2. Đánh giá chất lượng và độ tin cậy của thang đo

5.2.3. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

5.2.4. Kiểm định sự khác biệt giữa các biến kiểm soát đối với hành vi TTT

5.2.4.1. Sự khác biệt theo giới tính
5.2.4.2. Sự khác biệt theo độ tuổi
5.2.4.3. Sự khác biệt theo trình độ học vấn
5.2.4.4. Sự khác biệt theo số năm hoạt động kinh doanh
5.2.4.5. Sự khác biệt theo thu nhập hàng năm của hộ kinh doanh

6. CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM THÚC ĐẨY TUÂN THỦ THUẾ Ở HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRONG CÁC LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM

6.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

6.2. Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy tuân thủ thuế ở hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam

6.3. Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

6.3.1. Hạn chế của nghiên cứu

6.3.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 01 – KẾT QUẢ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 02 - NỘI DUNG PHỎNG VẤN

PHỤ LỤC 03 - THANG ĐO GỐC VÀ THANG ĐO ĐIỀU CHỈNH

PHỤ LỤC 04 – PHIẾU KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 05 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG

Tóm tắt

I. Mức độ quan tâm và các hướng nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế

Nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế đã thu hút sự chú ý từ nhiều lĩnh vực khác nhau như luật, kinh tế và tâm lý học. Một trong những nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này là của Groves (1958), người đã sử dụng phương pháp phỏng vấn để đánh giá hành vi trốn thuế. Từ đó, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế. Các nghiên cứu này không chỉ tập trung vào các yếu tố kinh tế mà còn xem xét các yếu tố xã hội, văn hóa và tâm lý. Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng niềm tin vào cơ quan thuế, nhận thức về sự công bằng trong hệ thống thuế và chuẩn mực xã hội đều có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tuân thủ thuế. Việc hiểu rõ các yếu tố này là rất quan trọng trong việc xây dựng các chính sách thuế hiệu quả và nâng cao tỷ lệ tuân thủ thuế trong cộng đồng.

II. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận vững chắc về hành vi tuân thủ thuế, trong đó nhấn mạnh vai trò của các yếu tố như nhận thức về công bằng thuế và niềm tin vào cơ quan thuế. Mô hình nghiên cứu được đề xuất dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch, trong đó chuẩn mực chủ quan được xác định là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhận thức về quyền lực của cơ quan thuế và khả năng bị kiểm tra có thể tác động đến hành vi tuân thủ thuế bắt buộc. Các yếu tố này được kiểm chứng thông qua các phương pháp phân tích định lượng, sử dụng phần mềm SPSS và AMOS để phân tích dữ liệu thu thập từ khảo sát. Mô hình nghiên cứu không chỉ giúp làm rõ các yếu tố ảnh hưởng mà còn cung cấp cơ sở để đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể.

III. Đánh giá thực trạng tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể

Thực trạng tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể ở Việt Nam cho thấy một bức tranh phức tạp. Mặc dù số lượng hộ kinh doanh cá thể ngày càng tăng, nhưng tỷ lệ tuân thủ thuế vẫn còn thấp. Theo số liệu thống kê, chỉ có khoảng 25,9% hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh, trong khi nhiều hộ vẫn chưa tự nguyện tuân thủ nghĩa vụ thuế. Việc quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể gặp nhiều khó khăn do đặc điểm hoạt động kinh doanh không ổn định và sự thiếu hiểu biết về nghĩa vụ thuế. Các hành vi gian lận thuế ngày càng tinh vi, dẫn đến thất thu ngân sách. Để cải thiện tình hình này, cần có các biện pháp quản lý thuế hiệu quả hơn, đồng thời tăng cường tuyên truyền, giáo dục về nghĩa vụ thuế cho hộ kinh doanh.

IV. Khuyến nghị nhằm thúc đẩy tuân thủ thuế

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đưa ra nhằm nâng cao hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể. Trước hết, cần quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc tổ chức và thực hiện các chính sách thuế. Thứ hai, cơ quan thuế cần tăng cường phối hợp với các tổ chức xã hội để tổ chức các buổi hội thảo nhằm cập nhật thông tin thuế cho hộ kinh doanh. Thứ ba, cần hoàn thiện chính sách thuế để đảm bảo tính công bằng giữa các nhóm hộ kinh doanh, đồng thời quy định rõ các biện pháp xử phạt đối với hành vi gian lận thuế. Cuối cùng, cơ quan thuế cần áp dụng các biện pháp kiểm tra, thanh tra một cách hiệu quả để nâng cao nhận thức về quyền lực của mình trong việc quản lý thuế.

V. Kết luận và hướng nghiên cứu tiếp theo

Luận án đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cho lý thuyết về hành vi tuân thủ thuế mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng chính sách thuế. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá tác động của các biện pháp quản lý thuế mới đến hành vi tuân thủ thuế, cũng như nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến hành vi này trong các bối cảnh khác nhau.

23/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Mức độ quan tâm và các hướng nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế Nghiên cứu về thuế có thể được tiếp cận từ các lĩnh vực đa ngành như luật, kinh tế, kế toán, tâm lý học và tài chính công (McKerchar, 2010). Trong đó, nghiên cứu của Groves (1958) về trốn thuế thu nhập là một trong những nghiên cứu được ghi nhận sớm nhất trong nghiên cứu về hành vi của người nộp thuế. Groves (1958) tiếp cận gián tiếp để đánh giá hành vi trốn thuế bằng cách phỏng vấn những người thuê nhà về thu nhập và chi phí mà chủ nhà của họ phải chịu trong quá trình quản lý căn hộ của họ.

Sau đó, ông có thể kiểm tra các tờ khai thuế của chủ nhà để xác định mức độ tuân thủ thuế của chủ nhà. Từ đó đến hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành vi tuân thủ của người nộp thuế đã thực hiện trên thế giới với mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau (Xem bảng 2 – Phụ lục 01). Ở Việt Nam, chủ đề nghiên cứu về tuân thủ thuế cũng được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam thực hiện trong các công trình nghiên cứu của mình: Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) thực hiện luận án tiến sỹ kinh tế với đề tài về “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (nghiên cứu tình huống của Hà Nội)”; Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân (2012) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp tư nhân - Xét trên khía cạnh nộp thuế đúng hạn”; Nguyễn Hoàng và Đào Thị Phương Liên (2013) với nghiên cứu về “Ảnh hưởng của chính sách thuế đến tuân thủ thuế: Kết quả khảo sát và một số kiến nghị”; Đặng Thị Bạch Vân (2014) với chủ đề nghiên cứu “Xoay quanh vấn đề người nộp thuế và tuân thủ thuế”; Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu (2015) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp”; Lèng Hoàng Minh (2017) với luận án tiến sĩ về “Nâng cao tính tuân thủ thuế của người nộp thuế ở Việt Nam; Bùi Ngọc Toản (2017) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập của doanh nghiệp - Nghiên cứu thực nghiệm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”; Phạm Thị Mỹ Linh (2019) với luận án tiến sĩ nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội”; Nguyễn Thị Thùy Dương và cộng sự (2019) trong nghiên cứu về “Determinants Influencing Tax Compliance: The Case of Vietnam;. Bên cạnh đó, hiểu một cách giản đơn thì tuân thủ thuế là mức độ sẵn sàng đóng thuế của người nộp thuế; không tuân thủ thuế có thể hiểu là khi người nộp thuế không nộp thuế của mình (Kirchler, 2007).

Theo Kirchler và Wahl (2010), tuân thủ và không 10 tuân thủ có thể được phân biệt: (i) tuân thủ thuế gồm tuân thủ thuế tự nguyện và tuân thủ thuế bắt buộc; (ii) không tuân thủ thuế bao gồm trốn thuế và tránh thuế (Xem bảng 2. Trong đó, tuân thủ tự nguyện bao gồm động cơ cơ bản, cụ thể là trên đó coi việc nộp thuế là nghĩa vụ của một công dân, trong khi việc tuân thủ bắt buộc liên quan đến nỗi sợ bị phát hiện và bị trừng phạt. Tránh thuế có thể được mô tả là việc giảm thiểu thuế trong ranh giới pháp lý, và trốn thuế bao gồm cả việc vi phạm pháp luật (Cechovsky, 2018). Dựa trên góc độ tiếp cận này, kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu mà tác giả có thể tiếp cận được từ năm 1992 đến năm 2021, chỉ ra hướng nghiên cứu về tuân thủ thuế được thực hiện nhiều hơn so với hướng nghiên cứu về không tuân thủ thuế (Khi có đến 48/63 công trình mà tác giả có thể thu thập nghiên cứu về tuân thủ thuế - Xem bảng 1 của Phụ lục 01), nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế tự nguyện và tuân thủ thuế bắt buộc được thực hiện nhiều từ năm 2012-2021; và các công trình nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế được thực hiện ở nhiều quốc gia, cả ở các nước phát triển và các nước đang phát triển (Mỹ, Áo, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ý, Malaysia, Indonesia, Jordan, Ghana, Campuchia, Việt Nam.) Với các công trình nghiên cứu về tuân thủ thuế, hướng nghiên cứu của các tác giả cũng rất đa dạng và có sự kế thừa, nghiên cứu bổ sung các khía cạnh liên quan đến tuân thủ thuế.

Trong đó, hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định, hành vi tuân thủ thuế được nhiều nghiên cứu thực hiện (Xem bảng 1 – Phụ lục 01) và cũng có những nghiên cứu hướng đến làm rõ về hành vi tuân thủ thuế (Arcos Holzinger và cộng sự, 2016; Alm và cộng sự, 2016), xây dựng thang đo đo lường về hành vi tuân thủ thuế (Kirchler and Wahl, 2010) hay như đánh giá, so sánh về tuân thủ thuế ở nhiều hoặc giữa các quốc gia (Mas’ud và cộng sự, 2019; Alm và cộng sự, 2016; Mas’ud và cộng sự, 2014; Natrah Saad, 2012; Alan Lewis và cộng sự, 2009). Về sắc thuế, thì hướng nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế theo sắc thuế cũng khá đa dạng như thuế thu nhập doanh nghiệp (Bùi Ngọc Toản, 2017; Gobena và cộng sự, 2016), thuế giá trị gia tăng (Azmi và cộng sự, 2016; Harju và cộng sự, 2019; Xin He và Huina Xiao, 2019; Fjeldstad và cộng sự, 2020; Alshira’h và cộng sự, 2020) hay thuế thu nhập (Khasawneh và cộng sự, 2008) (Xem bảng 1 – Phụ lục 01) Về đối tượng nộp thuế: bên cạnh đối tượng nghiên cứu là cá nhân, người nộp thuế (Alm và cộng sự ,2010; Benk và cộng sự, 2010; Lèng Hoàng Minh, 2017; Da Silva và cộng sự, 2019, Robbins và Kiser, 2020,.) thì các nghiên cứu về tuân thủ thuế cũng đa dạng về đối tượng nghiên cứu như các doanh nghiệp lớn (Siglé và cộng sự, 2018) cũng như các doanh nghiệp nói chung (Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009; Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu, 2015; Bùi Ngọc Toản, 2017; Phạm Thị Mỹ Linh, 2019; 11 Nguyễn Thị Thùy Dương và cộng sự, 2019), hay như doanh nghiệp vừa và nhỏ (Malik và Younus, 2020; Alshira’h và cộng sự, 2020), doanh nghiệp siêu nhỏ (Abba Ya’u, Natrah Saad, 2019) doanh nghiệp khởi nghiệp (Nagel và cộng sự, 2018), doanh nghiệp tư nhân (Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân, 2012), cá nhân tự kinh doanh (Eichfelder và Kegels, 2014; Olsen và cộng sự, 2018; Choo và cộng sự, 2016) hay như đại lý thuế (Abdul Hamid, 2014), chuyên gia tư vấn thuế (Darmayasa và Aneswari, 2015), nhân viên thuế (Fagbemi và cộng sự, 2010). Tuy nhiên, từ với đối tượng hộ KD cá thể (làm nghề và kinh doanh nghề nghề tại các làng nghề) thì chưa được nghiên cứu nào thực hiện và đây là một khoảng trống trong nghiên cứu về tuân thủ thuế. Trong khi đó, Ở Việt Nam với đối tượng nghiên cứu là hộ kinh doanh cá thể thì hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể nói chung và hộ KD cá thể trong các làng nghề chưa từng được nghiên cứu trước và là khoảng trống trong nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế.

Bởi vì hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào khía cạnh quản lý thuế. Như tác giả Lê Kim Ngọc (2016) với đề tài “Hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội”. Tác giả đã phân tích được thực trạng và chỉ ra những ưu, nhược điểm trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Hoàng Mai. Luận văn cũng nhấn mạnh những nguyên nhân chính dẫn đến một số bất cập trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể.

Từ đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp cụ thể đó là: Nâng cao hiệu lực bộ máy quản lý thuế bằng cách nâng cao chất lượng công tác xây dựng kế hoạch dự toán thu Ngân sách hàng năm, khai thác triệt để nguồn thu, chống thất thu; Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, thực hiện sắp xếp lại nhiệm vụ giữa các đội trong công tác xác định doanh thu, mức thuế của hộ kinh doanh; Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; Nguyễn Thị Biên (2017) với đề tài “Tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp khoán trên địa bàn huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội”. Luận văn đã trình bày khá đầy đủ và chi tiết cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, bao gồm: Khái niệm, phân loại, vai trò của thuế; Khái niệm đặc điểm và vai trò của hộ kinh doanh cá thể; Quan niệm, đặc điểm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể. Dựa trên dữ liệu thu thập được, tác giả đã có nhưng đánh giá về thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp khoán tại địa phương. Từ đó, những nhóm giải pháp được đưa ra là: Đổi mới mục tiêu, hoàn thiện tổ chức bộ máy trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể; Hoàn thiện các công cụ và ứng dụng các 12 phương pháp hiện đại trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thu thuế và ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của hộ kinh doanh cá thể; Nguyễn Thị Thủy (2017) với bài báo “Thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh”.

Bài báo đã chỉ ra được những hạn chế trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh như: Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế và nợ đọng thuế gây thất thu NSNN vẫn diễn ra thường xuyên, chưa khuyến khích được ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế; Hạn chế từ công tác xác định mục tiêu, đối tượng quản lý thuế và công tác tổ chức bộ máy thu thuế cho đến việc thực hiện các quy trình kiểm tra, thanh tra quản lý thuế của cơ quan thuế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề Việt Nam của tác giả Nguyễn Quỳnh Trang, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đàm Văn Huệ tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, đã phân tích sâu sắc các yếu tố tác động đến việc tuân thủ thuế của các hộ kinh doanh cá thể. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình tuân thủ thuế mà còn nêu bật những thách thức mà các hộ kinh doanh gặp phải, từ đó đưa ra những giải pháp khuyến khích việc tuân thủ thuế hiệu quả hơn. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá giúp họ hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa chính sách thuế và hành vi kinh doanh, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến kinh tế và quản lý, có thể tham khảo thêm bài viết Luận án tiến sĩ về quá trình xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Sơn La (1998-2015). Bài viết này cũng nghiên cứu các yếu tố xã hội và kinh tế ảnh hưởng đến sự phát triển của các cộng đồng, tương tự như những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế.

Ngoài ra, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án về giải pháp xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội tại các tỉnh Tây Bắc Việt Nam. Bài viết này cũng đề cập đến những chính sách và giải pháp nhằm nâng cao đời sống cho các hộ kinh doanh, có thể liên hệ mật thiết với vấn đề tuân thủ thuế.

Cuối cùng, bài viết Luận án Tiến sĩ về Tăng cường Tiêu chuẩn hóa ở Các Công ty Đóng Tàu Việt Nam trong Hội nhập cũng có thể cung cấp cái nhìn bổ sung về việc áp dụng các tiêu chuẩn trong quản lý doanh nghiệp, điều này có thể ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của các hộ kinh doanh.

Những liên kết này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề kinh tế và xã hội tại Việt Nam.