Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thanh tra thuế c 7 Chương 3: Thực trạng công tác thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Bình Dương từ năm 2010 đến năm 2013 Chương 4: Phân tích kết quả mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động thanh tra thuế tại Cục thuế tỉnh Bình Dương Chương 5: Kết luận – Kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục c 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TRA THUẾ 2.1 Các lý luận cơ bản về thanh tra thuế 2.1 Khái niệm về thanh tra thuế Thanh tra xuất phát từ nguồn gốc Latinh (Inspectare) có nghĩa là "nhìn vào bên trong", chỉ một sự xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định. Theo Từ điển Pháp luật Anh - Việt động từ "inspect" có nghĩa là "thanh tra" và được giải thích là hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra; còn theo nghĩa của danh từ “inspectorate” trong Từ điển Anh- Anh- Việt "thanh tra" lại có nghĩa là một cơ quan, tổ chức, bộ phận thanh tra ví dụ như ban thanh tra, cơ quan thanh tra… Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích "thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc". Từ những nghĩa như vậy, thanh tra với vai trò là danh từ chung có thể được hiểu là một thực thể pháp lý, một thiết chế nhà nước về thanh tra để chỉ cơ quan, tổ chức thanh tra hoặc bộ phận, lĩnh vực thanh tra nhất định. Theo Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15/11/2010 của Quốc Hội khóa 12 quy định: “Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thanh tra nhà nước bao gồm hai hoạt động: thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. - Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. - Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn –kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. Theo đó, Luật Thanh tra xác định “thanh tra chuyên ngành là một loại Thanh tra Nhà nước được thành lập theo ngành, lĩnh vực”.
c 9 “Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước theo ngành, lĩnh vực, bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành”. Theo Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ: Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực thuế (Điều 6, Điều 7, Điều 8). Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính: “Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của CQT đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật” [18, tr. Theo định nghĩa của Business Dictionary: “Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra theo luật định do cơ quan có thẩm quyền thực hiện để xác định các loại thuế thích hợp được các thực thể nộp một cách đầy đủ hay chưa thông qua việc thanh tra các thực thể này”.
Tổng hợp các quan điểm trên có thể đi đến một kết luận về định nghĩa thanh tra thuế như sau: Thanh tra thuế là một hoạt động thanh tra chuyên ngành do cơ quan thuế thực hiện. Đây là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan thuế đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật thuế của người nộp thuế. Thanh tra thuế được thực hiện theo một trình tự, kỹ thuật theo luật định, nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, phát hiện những sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật thuế để kiến nghị với Nhà nước các biện pháp khắc phục. Đồng thời, thanh tra thuế giúp người nộp thuế thực hiện đúng quy định của pháp luật thuế; phát huy những nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý thuế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.2 Mục tiêu của thanh tra thuế c 10 Hoạt động thanh tra thuế nhằm tạo điều kiện cho người nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản, chính sách pháp luật về thuế do Nhà nước ban hành, đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý thu ngân sách về thuế.
Thông qua việc thanh tra và căn cứ vào các kiến nghị của kết luận thanh tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của người nộp thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực, đồng thời đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa Luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế, thực hiện cải cách các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp lý hơn.3 Nguyên tắc của thanh tra thuế Thanh tra thuế là một hoạt động thanh tra chuyên ngành do ngành thuế thực hiện do đó về nguyên tắc thì cũng phải tuân thủ quy định về nguyên tắc thanh tra và được quy định như sau: tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời. Không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. Ngoài ra nguyên tắc thanh tra thuế còn được quy định tại Điều 75 của Luật Quản lý Thuế: “1. Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là người nộp thuế. Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.4 Vai trò của thanh tra thuế Thanh tra thuế là một trong những chức năng cơ bản của cơ quan thuế, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu thu ngân sách đó là chống thất thu thuế, phát hiện và ngăn chặn các hành vi gian lận thuế, khuyến khích người nộp c 11 thuế tự nguyện tuân thủ chính sách thuế. Thanh tra thuế có những vai trò quan trọng như sau: - Góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về thuế: Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra thuế có thể phát hiện những vấn đề bất cập của chính sách thuế trong từng sắc thuế từ đó kiến nghị các cơ quan chức năng thực hiện sửa đổi bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn. - Thanh tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp luật thuế và tội phạm nảy sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế: Hoạt động thanh tra thuế trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Theo đó, vừa phòng ngừa các hành vi phạm pháp luật thuế có thể xảy ra; vừa sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm xử lý và răn đe hành vi vi phạm pháp luật của người nộp thuế. - Thanh tra thuế khuyến khích người nộp thuế tự nguyện tuân thủ chính sách pháp luật thuế: Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước thanh tra người nộp thuế. Thông qua sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của NNT làm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế. - Thanh tra thuế có vai trò đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính về thuế: Cơ quan thuế đang thực hiện cơ chế thanh tra theo rủi ro trên cơ sở phân tích thông tin về người nộp thuế giúp giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết gây phiền hà đến người nộp thuế.2 Các hình thức và nội dung thanh tra thuế 2.1 Các hình thức thanh tra thuế Các hình thức thanh tra thuế có thể phân loại căn cứ theo các tiêu chí khi lập kế hoạch thanh tra thuế và mục tiêu khi tiến hành thanh tra thuế.
- Dựa vào tính kế hoạch của thanh tra thuế: Theo tính kế hoạch có thể chia thanh tra thuế làm hai loại là thanh tra thuế theo kế hoạch và thanh tra thuế đột xuất. c 12 + Thanh tra thuế theo kế hoạch: Thực hiện thanh tra thuế theo kế hoạch đã được xây dựng trước trên cơ sở nguồn nhân lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, cơ quan thuế tiến hành xây dựng kế hoạch thanh tra và trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt sau đó tổ chức thực hiện theo kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt. + Thanh tra thuế đột xuất: Thực hiện thanh tra thuế không theo kế hoạch thanh tra thuế đã lập trước. Thanh tra thuế đột xuất được tiến hành khi cơ quan thuế phát hiện người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế hoặc theo yêu cầu việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.