chương 1, các nội dung sau đã được nêu ra gồm: lý do của việc thực hiện đề tài và xác định được mục tiêu của đề tài là đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra thuế tại CCT TP Thủ Dầu Một, giúp hạn chế trong thất thu qua đó giúp cho nguồn thu cho ngân sách nhà nước được đảm bảo theo dự toán đã được phê duyệt. Chương này cũng cho biết phạm vi của nghiên cứu giới hạn tại CCT TP Thủ Dầu Một thuộc Cục Thuế tỉnh Bình Dương. Đồng thời, cũng cho biết nghiên cứu này được tiến hành qua bước nghiên cứu định tính sau đó đến nghiên cứu định lượng. Cuối cùng là giới thiệu tổng quát cấu trúc về nội dung của bài nghiên cứu này gồm 05 chương.
6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về thanh tra thuế 2. Khái niệm về thanh tra thuế Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích “thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc”. Ở nước ta, Hiến pháp Việt Nam ngày 18/12/1980 sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với một nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý Nhà nước (QLNN).
Theo Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15/11/2010, thanh tra gồm có thanh tra Nhà nước, thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó” (Điều 3). Theo đó, Luật Thanh tra xác định thanh tra chuyên ngành là một loại Thanh tra Nhà nước được thành lập theo ngành, lĩnh vực. “Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là cơ quan thực hiện nhiệm vụ QLNN theo ngành, lĩnh vực, bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, cục thuộc sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành”.
Theo Nghị định số 07/2012/NÐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ: Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Cục Thuế được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực thuế (Điều 6, Điều 7, Điều 8). Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính: “Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của CQT đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật”. Từ việc tổng hợp, phân tích các khái niệm, luận án đưa ra khái niệm riêng về thanh tra thuế: 7 Thanh tra thuế là một loại hình thanh tra chuyên ngành, theo đó CQT (chủ thể quản lý) thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các đơn vị, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, xử lý các vi phạm pháp luật thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ của NNT, đồng thời đề xuất hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật thuế”. Vai trò của thanh tra thuế Thực tiễn chỉ ra rằng, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế tùy thuộc vào nội dung, chất lượng và biện pháp, phương pháp thực hiện các quyết định của CQT.
Để các quyết định của CQT được NNT tuân thủ và chấp hành một cách nghiêm chỉnh, CQT phải đề ra quy trình thực hiện quyết định - là quy trình quản lý thuế. Trong quy trình đó thì thanh tra thuế là hoạt động vô cùng quan trọng. Thanh tra thuế là để theo dõi, đánh giá, nhận xét về việc chấp hành các quy định pháp luật thuế và các kết quả thực hiện theo các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về thuế, xác định được nguyên nhân cụ thể, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để xảy ra sai sót là thuộc về ai để có biện pháp khắc phục ngay hoặc xử lý vi phạm theo quy định (khi có hành vi vi phạm), với ý nghĩa đó, hoạt động thanh tra thuế góp phần quan trọng trong thực thi chính sách vĩ mô về tài khóa và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách. Thứ hai, thanh tra thuế nhằm hạn chế, chống thất thu thuế, hạn chế trốn- tránh, gian lận thuế.
Điều này xuất phát từ nguyên tắc hiệu quả và mục đích chống gian lận, chống thất thu cho NSNN của thanh tra thuế. Hàng năm, thanh tra thuế truy thu, truy hoàn và phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế đã góp phần động viên số thu không nhỏ cho NSNN. Do người nộp thuế ngày càng tinh vi hơn để lợi dụng các điểm hở của chính sách nhăm trục lợi, một số NNT cố tình trốn tránh về nghĩa vụ kê khai thuế và nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, nên thanh tra thuế giúp công khai và theo dõi để lượng tiền thuế này không bị thất thoát, chiếm dụng, giảm thiểu về ý đồ không tuân thủ, giảm hành vi gian lận thuế, nâng cao ý thức đóng góp tự nguyện đầy đủ của NNT làm tăng thu cho NSNN. Thứ ba, thanh tra thuế đảm bảo NNT chấp hành tốt pháp luật thuế: Thanh tra thuế với tính chất chuyên sâu và tổ chức hoạt động một cách chuyên nghiệp, có tác 8 dụng hữu hiệu ngăn chặn, phòng ngừa các đối tượng nộp thuế thực hiện việc gian lận về thuế, buộc NNT không muốn chấp hành nghĩa vụ phải thực hiện tốt nghĩa vụ thuế đối với NSNN, ngăn chặn, làm nản lòng một số NNT khác đang có ý đồ trốn tránh thuế.
Kết luận của thanh tra thuế phản ánh các vi phạm của NNT, xác định được các nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến phát sinh ra các vi phạm về chính sách thuế của NNT, từ đó, có biện pháp phòng ngừa các hành vi gian lận thuế, không chấp hành chính sách thuế, qua đó đảm bảo nguồn thu cho ngân sách trên địa bàn. Thứ tư, thanh tra thuế giúp cho các NNT có được sự công bằng giữa các doanh nghiệp kinh doanh với nhau, giúp NNT được tiếp cận với môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh sòng phẳng. Thanh tra thuế kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật thuế, xử lý kịp thời vi phạm trong phạm vi thẩm quyền của mình, qua đó xây dựng một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân nộp thuế, NNT có ý đồ gian lận sẽ không còn những cơ hội dùng “lá chắn thuế” hoặc “khe hở thuế” để đối phó với CQT, lợi dụng việc trốn thuế, chiếm dụng thuế nhằm tạo lợi thế trong thương mại với các đối thủ cạnh tranh…, nhờ đó mà những NNT làm ăn chân chính có thể cạnh tranh lạnh mạnh và vững tin vào tính công tâm của cán bộ thanh tra, tin vào sự quản lý của CQT tại địa bàn kinh doanh. Khi NNT đều có nghĩa vụ phải minh bạch và công khai đóng góp nghĩa vụ của mình cho NSNN sẽ tạo được sự công bằng, thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh, đồng thời thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Nhờ tác dụng đó thanh tra thuế đã làm giảm những hành vi tiêu cực trong việc thực hiện pháp luật thuế từ đó nâng cao sự tuân thủ của NNT. Thứ năm, thanh tra thuế góp phần hoàn chỉnh về chính sách và nhìn nhận những hạn chế, thiếu sót, bất cập trong thực tế pháp sinh về cơ chế quản lý và chính sách thuế và thực tiễn đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, từ đó đề xuất với các cơ quan có chức năng để kịp thời bổ sung hoàn thiện. Việc tăng cường thanh tra các lĩnh vực kinh doanh, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp giúp CQT phát hiện ra những thủ đoạn, “kỹ xảo”, thủ thuật gian lận của NNT, đồng thời nắm bắt, ghi nhận những vướng mắc, bất cập của chính sách không phù hợp với 9 NNT để từ đó kiến nghị các cơ quan ban hành chính sách kịp thời sửa đổi chính sách, có các chính sách, biện pháp quản lý thuế phù hợp. Thứ sáu, thanh tra thuế tạo điều kiện để giúp NNT nhận thấy được các tồn tại trong công tác quản lý tài chính, kế toán của họ.
Qua thanh tra toàn diện về tình hình chấp hành pháp luật thuế giúp NNT nhìn nhận, đánh giá khách quan lại bản thân mình về tình hình kê khai, thực hiện nghĩa vụ với NSNN, chế ðộ sổ sách kế toán…của mình trong quá khứ. Qua thanh tra thuế, CQT chỉ rõ cho NNT những điểm tích cực và tiêu cực để NNT để rút ra những kinh nghiệm, bài học cần thiết nhằm tránh được những yếu kém, những sai phạm, những nguy cơ trực tiếp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của NNT nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế của NNT, đồng thời thanh tra thuế có tác dụng giúp NNT minh bạch tình hình tài chính, giúp NNT quản lý về tài chính, kế toán tại đơn vị mình hiệu quả hơn. Tóm lại, công tác thanh tra nói chung và thanh tra thuế nói riêng có vai trò hết sức quan trọng và hết sức cần thiết trong công tác quản lý thuế, nó gắn liền với chức năng của thuế và quản lý thuế. CQT không thể đạt được mục tiêu quản lý của mình nếu thiếu chức năng thanh tra thuế.
Yêu cầu và nội dung, quy trình thực hiện thanh tra thuế 2. Yêu cầu của việc thực hiện thanh tra thuế Yêu cầu đối với công tác thanh tra thuế tại các doanh nghiệp: - Hoạt động thanh tra thuế phải đảm bảo được việc các đối tượng nộp thuế và CQT nghiêm chỉnh tuân thủ các chính sách của Nhà nước về công tác quản lý thu ngân sách vừa đảm bảo cho doanh nghiệp có được môi trương kinh doanh minh bạch vừa giúp cho CQT thực hiện tốt công tác thu. - Phải đánh giá được thực trạng chấp hành quy định pháp luật về thuế của các đối tượng nộp thuế và người thu thuế nhằm phát huy vai trò của thuế và đấu tranh với các tiêu cực. - Căn cứ vào các kết quả thanh tra, kiến nghị của cơ quan thanh tra thuế để có kế hoạch, giải pháp nhằm phát huy tính nghiêm minh của công tác thanh tra thuế, tuyên truyền chính sách thuế hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu suất, hiệu quả làm việc trong các cơ quan thuế.
10 - Hỗ trợ giúp đỡ, tạo điều kiện cho người nộp thuế hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình, nâng cao năng lực, kỷ luật, đạo đức và thái độ thực thi pháp luật, trách nhiệm của người thanh tra thuế tron thi hành công vụ. - Kịp thời biểu dương, khen thưởng những gương điển hình trong công tác thanh tra thuế; bảo vệ người cung cấp thông tin.