Chương 1: Giới thiệu: Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài nghiên cứu. Trình bày giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình lý thuyết. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu.
Đề xuất mô hình nghiên cứu và mô tả dữ liệu nghiên cứu, nguồn dữ liệu được lấy để thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Trình bày phân tích thống kê mô tả, kết quả phân tích của các mô hình kinh tế lượng. Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách: Trình bày kết luận và gợi ý chính sách liên quan. Nêu hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
Phạm Tấn Minh 6 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT V NGHIÊN CỨU TRƢỚC Trong chương này, trình bày cơ sở lý thuyết kinh tế học liên quan đến Thuế và doanh thu thuế. Đồng thời trình bày về các nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu. Từ cơ sở lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu trước, đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình lý thuyết.
Khái niệm Thuế Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuỳ thuộc vào bản chất của nhà nước và cách thức nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm khác nhau về thuế, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Smith (1776) đã khẳng định tính chất bắt buộc các công dân phải nộp thuế cho nhà nước theo tỷ lệ thu nhập của mỗi người. Ông đã nhận xét rằng các công dân của mỗi nước phải đóng góp cho Chính phủ theo tỷ lệ khả năng của mỗi người, nghĩa là tỷ lệ với lợi tức mà họ được thụ hưởng do sự bảo vệ của nhà nước.
Bàn về mối liên hệ giữa thuế và nhà nước, Marx và Engels (1962) cho rằng thuế là cơ sở kinh tế của nhà nước, đó là “khoản đóng góp nghĩa vụ cần thiết để nuôi dưỡng nhà nước pháp quyền, thuế là nguồn sống… đối với nhà nước hành pháp. Chính phủ mạnh và thuế cao là hai khái niệm đồng nhất”. Thuế gắn liền với nhà nước và đảm bảo sự tồn tại của bộ máy nhà nước. Theo Makkollhell and Bruy (1993; trích bởi (Tổng cục thuế, 2011) thì Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật.
Theo Viện Ngôn ngữ học (2010) thì Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định. Theo Viện Khoa học pháp lý (2006) thì Thuế là một khoản đóng góp bằng tài sản cho nhà nước do Luật định thành nghĩa vụ đối với cá nhân hoặc tổ chức nhằm đáp ứng Phạm Tấn Minh 7 nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Nhà nước sử dụng thuế làm công cụ quan trọng để huy động nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, điều chỉnh kinh tế và điều hoà thu nhập. Theo Lê Văn Ái (2000), Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và pháp luật quy định.
Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế để phục vụ mục tiêu công cộng. Nguồn thu về thuế không được sử dụng cho mục tiêu cá nhân. Nguyễn Thị Liên và ctg (2009), Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Nguyễn Thuấn (2004), Thuế là một khoản thu của chính phủ đối với các tổ chức và thành viên trong xã hội, khoản thu mang tính chất bắt buộc không hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định.
Đối với giác độ người nộp thuế thì Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buiộc mà mội tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước; còn đứng trên giác độ phân phối thu nhập thì thuế lá hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước (Tổng cục thuế, 2011). Mặc dù còn nhiều các định nghĩa khác nhau, song nếu khái quát chung để tìm các hạt nhân hợp lý của từng quan điểm, có thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế sau đây: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh giữa nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân trong xã hội. Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước. Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho nhà nước được pháp luật qui định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Phạm Tấn Minh 8 Từ những nội dung trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. ặc điểm của Thuế Bản chất của thuế là thể hiện quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các tổ chức và cá nhân trong xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước – bằng quyền lực của mình – tham gia tái phân phối tổng sản phẩm quốc nội nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính của thuế, những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc điểm riêng có của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác. Những đặc điểm đó là (Khúc Đình Nam và ctg, 2012, Lê Văn Ái, 2000, Nguyễn Kim Quyến, 2007, Nguyễn Thị Liên và ctg, 2009, Phan Hiển Minh và ctg, 2001): 2.
Thuế mang tính bắt buộc Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách nhà nước. Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên mang tính chất bắt buộc của nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế. Tính bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những lý do sau: Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển giao.
Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhập phải chuyển giao. Thứ hai, trong xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên cộng đồng về hàng hóa công cộng ngày càng tăng mà phần lớn hàng hóa này lại do nhà nước cung cấp. Để duy trì hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng thì thu nhập về hàng hóa công cộng Phạm Tấn Minh 9 từ những người thụ hưởng phải đủ bù đắp các chi phí bỏ ra. Nhưng hàng hóa công cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng và người thụ hưởng cũng không muốn sử dụng theo khẩu phần.
Mặt khác, hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh và không thể đem trao đổi trực tiếp trên thị trường để bù đắp các chi phí. Chính vì thế trong việc cung cấp hàng hóa công cộng đã xuất hiện những “người ăn không”, nghĩa là không ai tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hóa công cộng. Do đó, để đảm bảo cung cấp hàng hóa công cộng nhà nước chỉ có thể sử dụng phương pháp thuế để buộc tất cả mọi người, kể cả “người ăn không” phải chuyển giao thu nhập của mình sang khu vực công. Thuế mang tính không hoàn trả trực tiếp Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của nhà nước.
Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không được hoặc ít được sử dụng các dịch vụ công cộng.
Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi được thừa hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế mà họ phải trả và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này. Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản phí, lệ phí và tín dụng nhà nước. Tính pháp lý cao Đặc điểm này thể hiện thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao. Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước.