Chương 1 đã trình bày tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các khái niệm, lý thuyết, thước đo của né tránh thuế, lý thuyết về dòng tiền tự do trong doanh nghiệp. Ngoài ra, trong chương cũng sẽ trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, làm cơ sở phát triển các giả thuyết và mô hình thực nghiệm.1 Một số khái niệm 2.1 Né tránh thuế Né tránh thuế là hoạt động tập hợp các phương thức để tối hiểu hóa tiền thuế phải nộp. Đây là một hoạt động có thể giúp các doanh nghiệp tận dụng được nguồn vốn tài trợ từ số tiền thuế tránh phải nộp cho Chính phủ, chẳng hạn như tận dụng các phương pháp kế toán.
Qua đó, có thể giúp doanh nghiệp giảm lại số tiền nợ phải vay mượn để phục vụ cho hoạt động của mình. Né tránh thuế được xác định trong nhiều nghiên cứu khác nhau. Chẳng hạn như: né tránh thuế là việc làm giảm thuế trên 1 đơn vị tiền tệ của lợi nhuận kế toán trước thuế (Hanlon và Heitzman, 2009). Hoặc, hành động né tránh thuế là việc chuyển một lượng giá trị từ chính phủ đến cổ đông.
Nghiên cứu này xem xét cách né tránh thuế hợp pháp bằng cách tận dụng cách quy định của pháp luật để giảm lượng thuế phải nộp. Các quy định hợp pháp có thể giúp né tránh thuế nếu nó làm thay đổi đến nghĩa vụ thuế. Tác động thuế có thể được phát sinh bởi các giới hạn hợp pháp được đặt ra bởi luật thuế như là “doanh thu” và “chi phí kinh doanh” (Desai và Dharmapala, 2009). Hoặc, né tránh thuế là hành vi tận dụng hợp pháp quy định của chế độ thuế hiện hành, để giảm lượng thuế đáng lý ra phải nộp (Pasternak và Rico, 2008).
Nhìn chung, né tránh thuế được hiểu theo cách truyền thống là các chính sách chuyển nguồn tài chính từ chính phủ sang các cổ đông, và vì thế là tăng giá trị sau thuế của công ty. Tuy nhiên, không phải lúc nào né tránh thuế cũng làm tăng giá trị công ty sau thuế, nó có thể làm giảm giá trị công ty trong một số trường hợp 8 cộng hưởng với các chi phí liên quan trực tiếp đến việc lên kế hoạch thuế của công ty, chẳng hạn như chi phí thích nghi, chi phí đại diện (Wang, 2010). Có nhiều nghiên cứu đặt ra câu hỏi rằng, tại sao một số doanh nghiệp lại tránh thuế nhiều hơn những doanh nghiệp khác? Các nhà nghiên cứu lý giải hành động và mức độ né tránh thuế của các doanh nghiệp theo nhiều cách khác nhau; ví dụ như: dựa vào các đặc tính của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, quy mô, tuổi doanh nghiệp,. Trong khi, một số khác lại lý giải dựa trên cấu trúc sở hữu, đặc điểm tổ chức (Graham và Tucker, 2006; Desai và Dharmapala, 2005, 2006, 2009).2 Né tránh thuế và trốn thuế Theo Agnar Sandmo (2004), nếu hành vi né tránh thuế mang lại lợi ích thì nó không phải hành vi trốn thuế mà là chuyển số thuế phải nộp kỳ này sang kỳ sau hoặc năm tài chính sau.
Ngược lại nếu theo hành vi tiêu cực của nhà quản lý thì né tránh thuế là trốn thuế thì công ty sẽ chịu những hậu quả nặng nề của hành vi này về mặt pháp lý. Quan niệm khác biệt về né tránh thuế và trốn thuế dựa trên tính hợp pháp trong hành vi người đóng thuế. Trốn thuế là hành vi chống lại pháp luật: khi người đóng thuế cố không báo cáo thu nhập có nguồn gốc phải chịu thuế, họ xúc tiến các hoạt động phi pháp làm cho họ phải chịu sự quản lý của pháp luật. Khi tránh thuế theo hình thức này, họ lo ngại về khả năng các hành động của mình có thế bị phát hiện.
Né tránh thuế, ngược lại, là hoạt động nằm trong khuôn khổ quy định của luật thuế. Đó là sự tận dụng các quy định của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế phải nộp, bằng cách chuyển hóa thu nhập lao động thành thu nhập vốn, để chịu mức thuế thấp hơn. Khi thực hiện né tránh thuế, người chịu thuế không phải lo lắng về khả năng bị phát hiện. Nếu né tránh thuế là hợp pháp, thì đâu là sự khác biệt giữa né tránh thuế và phản ứng ngược làm thuế tăng bởi hiệu ứng giá lên cung và cầu? Giả sử du lịch hàng không bị đánh thuế cao, làm hành khách chuyển sang du lịch bằng xe lửa, 9 hoặc gia tăng biên độ thuế thu nhập lao động làm người lao động chuyển nhiều thời giờ làm việc sang nghỉ ngơi.
Như vậy có phải là hành vi né tránh thuế hay không? Định nghĩa đơn giản của né tránh thuế là tập trung vào ý đồ của nhà làm luật để giảm phần thuế phải chịu. Với định nghĩa này, thì hiệu ứng giá không được phân loại vào né tránh thuế.2 Lợi ích và chi phí của hành vi né tránh thuế Từ các khái niệm về né tránh thuế của Hanlon và Heitzman (2009), Pasternak và Rico (2008), có thể nhận thấy lợi ích rõ ràng nhất của các công ty khi thực hiện hành vi né tránh thuế đó là các công ty sẽ tiết kiệm được số tiền thuế phải nộp. Số tiền thuế tiết kiệm được sẽ làm gia tăng dòng tiền của doanh nghiệp, giúp gia tăng cơ hội đầu tư của doanh nghiệp khi có sẵn nguồn lực, việc gia tăng hoạt động đầu tư sẽ làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. Dưới góc độ của cổ đông, giá trị tài sản của họ sẽ được gia tăng dưới dạng cổ tức được nhận nhiều hơn, dưới góc độ nhà quản lý họ cũng có được lợi ích dưới dạng các khoản thù lao cho các hoạt động né tránh thuế hiệu quả Tuy nhiên việc né tránh thuế không hoàn toàn là một hành vi chỉ mang lại lợi ích, ngược lại chi phí đi kèm với các hành vi này rất đáng kể, nếu không muốn nói là rất lớn trong một số trường hợp, chi phí lớn nhất đồng thời cũng khó đo lường nhất đó là chi phí đại diện gây ra bởi sự bất cân xứng thông tin giữa cổ đông và nhà quản lý (Desai và Dharmapala, 2006; Wang, 2010).
Mối quan hệ giữa chi phí đại diện và né tránh thuế được Deasai và Dharmapala (2006) giải thích trong nghiên cứu như sau: vốn dĩ chi phí đại diện luôn có thể xuất hiện ở bất kỳ doanh nghiệp nào, nhưng trong trường hợp các công ty có hoạt động né tránh thuế, chi phí này có thể sẽ rất nghiêm trọng, lý do là bởi hoạt động né tránh thuế đòi hỏi các hành vi điều chỉnh vị thế tài chính của doanh nghiệp, mục tiêu tạo ra sự khác biệt trong số thuế đáng lý phải nộp và số thuế thực tế phải nộp, tức là tạo ra sự khác biệt giữa sổ sách kế toán và tình hình thực tế doanh nghiệp. 10 Trên thực tế do các nguyện tắc kế toán sự khác biệt này vẫn xảy ra khá thường xuyên và không gây ra những hậu quả nghiêm trọng nếu nhà quản lý vẫn hành động vì lợi ích của cổ đông. Tuy nhiên, trong bối cảnh hành vi né tránh thuế sự khác biệt này được khuyến khích và các nhà quản lý có thể tận dụng sự gia tăng trong bất cân xứng thông tin để trục lợi cho bản thân và làm tổn hại lợi ích của cổ đông. Hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp sẽ bị suy giảm và các cổ đông sẽ không kiểm soát được tình hình nội tại của chính doanh nghiệp mình Từ đó, có thể nhận thấy, nếu các hành vi của nhà quản lý bị cơ quan chức năng xếp vào nhóm trốn thuế, công ty có thể phải ghánh chịu những hậu quả nặng nề về mặt pháp lý, ngoài việc phải đối mặt với các khoản nợ, danh tiếng của doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Lợi ích của người né thuế Nếu như đa số các bài nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như Desai và Dharmapala (2006), Hanlon và Heitzman (2009), Pasternak và Rico (2008) đều nhận định né tránh thuế không phải là một hành vi phạm pháp mà là tập hợp các cách thức hợp pháp nhằm điều chỉnh vị thế tài chính hiện tại của chủ thể để tối thiểu hóa số thuế phải nộp. Thì vấn đề thách thức lớn nhất trong nghiên cứu lĩnh vực này chính là chưa có một định nghĩa được chấp nhận hoàn toàn về né tránh thuế, vì thực tế nghiên cứu cho thấy, mỗi nghiên cứu của các tác giả đều sử dụng thước đo khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu. Slemrod (2004) đã chỉ ra rằng khác với né tránh thuế thu nhập cá nhân, né tránh thuế thu nhập doanh nghiệp phức tạp hơn vì xuất hiện vấn đề tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát, dẫn đến phát sinh các vấn đề về chi phí đại diện. Các cổ đông sẽ kỳ vọng nhà quản lý sẽ thay mặt họ đưa ra các quyết định tối đa hóa lợi ích, trong đó bao gồm tối thiểu hóa số thuế phải nộp.
Chính sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý có thể khiến cho nhà quản lý có thể đưa ra những quyết định phục vụ cho lợi ích bản thân thay vì như kỳ vọng của các cổ đông, trong đó bao gồm các quyết định về thuế. 11 Chen và Chu (2005) xem xét hành vi né tránh thuế trong mô hình về người chủ, người đại diện và tập trung vào sự thiếu hiệu quả do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Cũng đồng quan điểm với Slemrod (2004), Chen và Chu cho rằng các vấn đề về chi phí đại diện sẽ dẫn đến việc kém hiệu quả trong vấn đề quản lý, điều hành công ty, người quản lý có thể lạm dụng quyền hạn của mình để đưa ra những quyết định mang chính sách cá nhân, bao gồm cả quyết định về thuế. Srocker và Slemrod (2005) nghiên cứu các hợp đồng thù lao của giới quản lý cấp cao là những người quyết định trực tiếp đến hành vi né tránh thuế để xem xét mối quan hệ đại diện trong các hành vi này, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý hàm ý rằng nếu né tránh thuế là một hành động có lợi thì chủ doanh nghiệp phải tìm kiếm cách thức xây dựng một cơ chế thù lao phù hợp để đảm bảo rằng các nhà quản lý sẽ đưa ra các quyết định liên quan đến thuế một cách hiệu quả.