phần mở đầu, bảng biểu và phụ lục, luận văn gồm 5 chƣơng Chƣơng 1: Giới thiệu đề tài Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về các khoản thu thuế Chƣơng 3: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 5: Kết luận và gợi ý chính sách nhằm nâng cao khoản thu thuế cho các quốc gia châu Á. 4 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KHOẢN THU THUẾ 2. Thuế Thuế gắn liền với sự ra tồn tại, phát triển của nhà nƣớc và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tùy thuộc vào bản chất của Nhà nƣớc và cách thức Nhà nƣớc sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nhau (Eltony, 2002).
Adam Smith (1923-1790) nói về thuế là khoản các công dân của mỗi nƣớc phải đóng góp cho chính phủ theo khả năng của mỗi ngƣời, nghĩa là tỉ lệ với lợi tức mà họ đƣợc thụ hƣởng do sự bảo vệ của Nhà nƣớc. David Ricardo (1772-1823) cho rằng thuế đƣợc cấu thành từ phần của Chính phủ lấy trong sản phẩm đất đai và lao động trong nƣớc và xét cho cùng thì thuế đƣợc lấy từ tƣ bản hay thu nhập của ngƣời chịu thuế. Karl Marx (1818-1883) cho rằng thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nƣớc, đó là khoản đóng góp nghĩa vụ cần thiết để nuôi dƣỡng Nhà nƣớc pháp quyền là nguồn sống đối với Nhà nƣớc hành pháp. Thuế gắn liền với Nhà nƣớc và đảm bảo sự tồn tại của bộ máy Nhà nƣớc.
Friedrich Engels (1820-1895) khẳng định để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nƣớc đó là thuế. Mọi nhà nƣớc đều sử dụng quyền lực để quy định sự đóng góp của nhân dân cho Nhà nƣớc. Vladimir Lênin (1870-1924) cho rằng thuế là cái Nhà nƣớc thu của dân mà không bù lại. Khẳng định tính chất của thuế là không hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp thuế dựa trên số tiền thuế đã nộp cho Nhà nƣớc.
Hai tác giả ngƣời Anh là Pass and Lowes cho rằng thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên của cải và vốn nhận đƣợc của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản. Samuelson and Nordhaus (1977) hai nhà kinh tế học ngƣời Mỹ cùng cho rằng, bên cạnh các loại nghĩa vụ ngƣời dân phải thực hiện đối với Nhà nƣớc, cẩn phải hiểu rằng thuế là một dạng cƣỡng bức quan trọng. Tất cả mọi ngƣời đều phải chịu theo luật thuế. Sự thật là toàn bộ công dân tự đặt gánh nặng thuế lên vai và mỗi công dân cũng đƣợc hƣởng phần hàng công cộng do Chính phủ cung cấp.
5 Theo Wilson (1984) trên giác độ phân phối thu nhập thì thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nƣớc. Trên giác độ ngƣời nộp thuế, thuế đƣợc coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nƣớc theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc.Trên giác độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt theo đó nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tƣ sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nƣớc. Từ đó chúng ta có thể đƣa ra một định nghĩa tống quát về thuế nhƣ sau: “Thuế là một khoản phải nộp bằng tiền của các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nƣớc; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng” 2. Khoản thu thuế Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế khoản thu thuế là tỷ lệ phần trăm GDP đƣợc động viên vào ngân sách nhà nƣớc thông qua thuế (OECD, 2016).
Khoản thu thuế là thu nhập của chính phủ nhận đƣợc thông qua thuế bao gồm số tiền đƣợc động viên từ các thành phần kinh tế vào ngân sách đƣợc thực hiện bởi cơ quan thuế và cơ quan hải quan. Đây là khoản thu chiếm tỉ trọng lớn và ổn định và có thể đƣợc xem nhƣ một thƣớc đo về mức độ mà chính phủ kiểm soát các nguồn lực của nền kinh tế. Đặc điểm và vai trò của thuế 2. Đặc điểm của thuế Theo Ghura (1998) để phân biệt giữa khoản thu thuế và các khoản thu khác của ngân sách nhà nƣớc thuế mang những đặc điểm nhƣ sau: Thứ nhất, thuế là khoản thu mang tính bắt buộc, để đảm bảo tập trung thuế trên phạm vi toàn xã hội.
Tính bắt buộc xuất phát từ việc nhà nƣớc cung ứng phần lớn hàng hóa công cộng cho xã hội. Ít có ngƣời dân nào tự nguyện trả tiền cho việc 6 thụ hƣởng hàng hóa công cộng do nhà nƣớc cung cấp. Chính phủ phải sử dụng hệ thống pháp luật để ban hành các sắc thuế, vì vậy thuế thƣờng đƣợc quy định dƣới dạng văn bản luật hay pháp lệnh. Cho nên, trốn thuế hay gian lận thuế đều bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật và phải chịu xử phạt về hành chính hoặc hình sự.
Thứ hai, thuế là một khoản thu không bồi hoàn, không mang tính hoàn trả trực tiếp. Nộp thuế cho nhà nƣớc không có nghĩa là cho nhà nƣớc mƣợn tiền hay gửi tiền vào ngân sách nhà nƣớc hoặc mua một dịch vụ công. Các cá nhân, tổ chức thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nƣớc không có quyền đòi hỏi nhà nƣớc phải cung cấp trực tiếp cho họ một lƣợng hàng hóa dịch vụ tƣơng ứng. Nộp thuế là một nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân.
Tuy nhiên, pháp nhân và thể nhân có quyền nêu ý kiến của mình nếu những gì nhận đƣợc từ sự đầu tƣ của nhà nƣớc là quá thấp trong khi số thuế phải nộp quá cao thì có thể kiểm tra việc chi tiêu của nhà nƣớc thông qua các đại biểu của nhân dân tại các kỳ họp quốc hội. Thứ ba, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nƣớc các khoản thuế đã đƣợc pháp luật quy định. Công dân không phải nộp bất kỳ khoản thuế nào nếu sắc thuế đó chƣa đƣợc ban hành dƣới dạng luật. Thứ tƣ, thuế gắn chặt với các hoạt động kinh tế và đƣợc xây dựng trên nền tảng giá trị thặng dƣ do nền kinh tế tạo ra.
Do đó thuế đem lại khoản thu to lớn và bền vững so với các khoản thu khác của Nhà nƣớc, cách duy nhất làm cho số thuế ngày càng tăng trƣởng ổn định chính là phát triển kinh tế, chăm lo cho sự hƣng thịnh của nền kinh tế cũng là chăm lo cho nguồn thu tƣơng lai của đất nƣớc. Vai trò của thuế Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, với sự thay đổi phƣơng thức can thiệp của Nhà nƣớc vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Theo Gupta (2007) vai trò của thuế đƣợc thể hiện qua các khía cạnh sau đây: Thứ nhất, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc.
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Đối với các nƣớc có nền kinh tế phát triển, để huy động tập trung nguồn 7 lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc thì vai trò quan trọng này thuộc về thuế. Sử dụng công cụ thuế để huy động ngân sách cho nhà nƣớc có ƣu điểm là phạm vi thu thuế rộng, đối tƣợng nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế. Do đó, thuế luôn là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho nhà nƣớc.
Nguồn thu của ngân sách có thể gia tăng khi và chỉ khi nền kinh tế có sự tăng trƣởng bền vững. Thứ hai, thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vì lợi ích xã hội nhà nƣớc có thể tăng thuế hoặc giảm thuế đối với thu nhập của các tầng lớp dân cƣ và thu nhập của doanh nghiệp để kích thích hoặc hạn chế sự phát triển các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau của nền kinh tế. Trong những năm suy thoái kinh tế, nhà nƣớc có thể hạ thấp mức thuế tạo ra những điều kiện thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng, tăng đầu tƣ và mở rộng sản xuất để đƣa nền kinh tế nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảng.
Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển quá nóng thì thuế đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ để kiềm chế lạm phát. Thông qua việc điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu, thuế đƣợc sử dụng để thực hiện chính sách đối ngoại và bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc cũng nhƣ thúc đẩy sự hòa hợp kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Thứ ba, thuế thực hiện vai trò điều hòa thu nhập, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Nền kinh tế thị trƣờng với sức mạnh thần kỳ luôn chứa đựng những khuyết tật mà bản thân thị trƣờng không thể tự sửa chữa đặc biệt là về mặt xã hội.
Do vậy, nhà nƣớc đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng và giải quyết các vấn đề xã hội. Nhà nƣớc dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo, thông qua việc đánh thuế lũy tiến vào các đối tƣợng có thu nhập cao và trợ cấp những hàng hóa thiết yếu cho những ngƣời có thu nhập thấp. Việc phân phối lại thu nhập là biện pháp mà chính phủ thực hiện nhằm góp phần giảm bớt những chênh lệch giàu nghèo trong nền kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trƣởng của đất nƣớc.
Thứ tƣ, thuế là công cụ thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh.