Chương 1 giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do nghiên cứu, xác định vấn đề, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp, nội dung và ý nghĩa nghiên cứu. Chương 2 trình bày các lý thuyết liên quan đến đề tài, bao gồm: Các khái niệm, vai trò của thuế; Thuế và công bằng kinh tế; Phân chia gánh nặng thuế; Thuế thu nhập doanh nghiệp và tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đến nền kinh tế; Các khái niệm về không tuân thủ thuế; Động cơ trốn thuế của doanh nghiệp; Các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế; Các nghiên cứu trước về không tuân thủ thuế, từ đó hình thành nên các giả thuyết nghiên cứu. 6 Luận văn thạc sĩ Chương 3 trình bày các nội dung cơ bản liên quan đến quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các biến được sử dụng, cách đo lường biến và nguồn thu thập dữ liệu. Chương 4 trình bày các phân tích dữ liệu sau khi đã xử lý như phân tích tần số, phân tích thống kê mô tả, phân tích mối tương quan giữa các biến, phân tích kết quả mô hình hồi quy các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế TNDN, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5 sẽ trình bày kết luận và các kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được; giới hạn của đề tài và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo xung quanh vấn đề về mức độ không tuân thủ thuế của doanh nghiệp. 7 Luận văn thạc sĩ CHƢƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung chương 2 sẽ được tác giả trình bày các khung lý thuyết, bao gồm: Các khái niệm, vai trò của thuế; Thuế và công bằng kinh tế; Phân chia gánh nặng thuế; Thuế thu nhập doanh nghiệp và tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đến nền kinh tế; Các khái niệm về không tuân thủ thuế; Động cơ trốn thuế của doanh nghiệp; Các yếu tố tác động đến mức độ không tuân thủ thuế; Các nghiên cứu trước về không tuân thủ thuế. Khái niệm về thuế Thuế là một công cụ tài chính vô cùng quan trọng, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước mà bất cứ quốc gia nào cũng sử dụng công cụ thuế để tham gia vào việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Thuyết thuế ước khẳng định “thuế là đối giá của hàng hóa và dịch vụ công cộng chính phủ cung cấp”.
Thuyết tương đẳng phát biểu “thuế là một phần tài sản của công dân đóng góp để yên hưởng phần còn lại” (Lê Quang Cường & ctg. Thuế là một khoản thu của chính phủ đối với các tổ chức và thành viên trong xã hội, khoản thu mang tính chất bắt buộc không hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định (Nguyễn Thuấn, 2004). Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp, do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực, nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước (Khúc Đình Nam và ctg. Vai trò của thuế trong nền kinh tế Thứ nhất, thuế nhằm huy động nguồn tài chính, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Theo Luật Quản lý thuế (2006), “thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước”. Lê Quang Cường & ctg. (2012) nhận định về vai trò huy động của thuế: “đây là vai trò mang tính lịch sử, gắn với sự ra đời của thuế”. Để thực hiện tốt vai trò này, khi xây dựng chính sách thuế cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Thuế phải bao quát các nguồn thu có khả năng động viên cho Ngân sách Nhà nước.
Thuế phải đảm bảo bao trùm lên mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực, mọi khoản thu nhập của xã hội. Chính sách thuế phải tác động tích cực lên các yếu tố giúp tăng trưởng nền kinh tế xã hội, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển các hoạt động kinh doanh, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã hoạch định. Phải chú trọng đến khía cạnh công bằng trong điều tiết thu nhập khi xây dựng và thực hiện các chính sách thuế, thực hiện sự bình đẳng giữa tất cả các đối tượng chịu sự điều tiết thu nhập của thuế. Theo Khúc Đình Nam & ctg.
(2012), thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Thứ hai, thuế góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội: điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế; thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý; thuế điều chỉnh tích lũy tư bản; thuế góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước bằng cách thay đổi thuế suất hoặc các biện pháp ưu đãi thuế (Khúc Đình Nam & ctg. Lê Quang Cường & ctg. (2012) nhận định, bằng cách sử dụng công cụ thuế, Chính phủ có thể bày tỏ quan điểm, chủ trương và hành động của mình đối với các chương trình phát triển kinh tế xã hội: Chính sách thuế góp phần định hướng cho đầu tư trong nước, thực hiện chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước.
Thông qua thuế suất, miễn giảm hay quy định về các trường hợp chịu thuế, không chịu thuế. chính sách thuế có thể khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh, góp phần vào việc xác lập quan hệ cân đối giữa cung – cầu hàng hóa, dịch vụ, tác động đến cân bằng thị trường. Góp phần thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước trong từng thời kỳ, nhằm mục tiêu phát triển nền kinh tế khi gia nhập nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Chính sách thuế giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư vốn bị phân hóa bởi nền kinh tế thị trường.
Chính sách thuế xác lập sự công bằng về trách nhiệm, nghĩa vụ nộp thuế giữa các tổ chức và cá nhân. Việc điều hòa thu nhập xã hội chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống chính sách thuế trực thu. Thuế và công bằng kinh tế Theo David Begg (2005), việc điều tiết thu nhập nhằm thực hiện công bằng được thực hiện theo hai hướng là công bằng theo chiều ngang (horizontal equity) và công bằng theo chiều dọc (vertical equity). Công bằng theo chiều ngang: Có nghĩa là việc đối xử như nhau với những người bằng nhau trong một hệ thống thuế; số thuế đóng sẽ bằng nhau 10 Luận văn thạc sĩ giữa những người giống nhau.
Công bằng theo chiều dọc: nguyên tắc là các nhóm có nhiều nguồn lực hơn thì phải nộp thuế nhiều hơn so với các nhóm có thu nhập thấp hơn; hoặc những cá nhân với khả năng nộp thuế cao hơn sẽ nộp thuế nhiều hơn những cá nhân có khả năng nộp thuế thấp hơn; công bằng theo chiều dọc là việc đối xử không như nhau với những người không như nhau và số thuế đóng sẽ khác nhau. Đây là nguyên lý của Robin Hood về việc lấy đi của người giàu đem cho người nghèo. Trong khi công bằng theo chiều ngang liên quan đến phép đo lường có chừng mực mà không thiên vị của căn cứ tính thuế, công bằng theo chiều dọc lại liên quan đến cấu trúc mức công bằng mà qua đó tính thuế. Công bằng trong hệ thống thuế phụ thuộc rất nhiều vào việc nhận định các vấn đề kinh tế xã hội của Nhà nước, nền tảng đạo đức và truyền thống của mỗi dân tộc.
Công bằng chỉ mang tính chất tương đối. Có thể các hiện tượng công bằng ngày hôm nay sẽ trở nên bất công trong tương lai và xã hội sẽ thiết lập một trật tự công bằng mới ở mức độ nhận thức cao hơn, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia (Lê Quang Cường & ctg. Phân chia gánh nặng thuế Mặc dù dễ dàng nhận thấy tác động của thuế thông qua phản ứng của thị trường nhưng người chịu gánh nặng thuế thì chưa rõ ràng. Đối tượng chịu thuế xét theo quan điểm kinh tế học và theo pháp luật thuế là khác nhau do thay đổi trong hành vi và thay đổi về mức giá cân bằng.
Người tiêu dùng sẽ mua ít hàng hóa chịu thuế hơn, lúc đó người sản xuất sẽ mua ít nguyên vật liệu đầu vào để sản xuất hàng hóa, điều này sẽ ảnh hưởng đến giá thành và lợi nhuận trên từng đơn vị hàng hóa. Lúc này, các nhà kinh tế học sẽ phân tích các yếu tố tác động đến sự thay đổi về giá, và sự thay đổi đó sẽ ảnh hưởng như thế 11 Luận văn thạc sĩ nào đến các cá nhân khác nhau (Metcalf & Fullerton, 2002). Gánh nặng thuế theo quan điểm kinh tế học Để hiểu rõ hơn gánh nặng khi có thuế, Gruber (2010) xem xét các trường hợp thay đổi giá cả hàng hóa trước và sau khi có thuế, ai sẽ chịu gánh nặng về thuế, người tiêu dùng hay người sản xuất? Hình 2.1: Phân chia gánh nặng thuế (Nguồn: Gruber, 2010) Hình (a) hiển thị thị trường gas trước khi có thuế cân bằng tại điểm A, với mức giá cân bằng là 1,5$/1 gallon. Khi đánh thuế vào phía cung với mức 0,5$/1 gallon, hình (b) cho thấy sự dịch chuyển của đường cung, từ S1 sang S2, dẫn đến sự gia tăng của giá gas từ P1 lên P3, mức giá tăng thêm 0,3$/1 gallon (điểm D).
Gánh nặng thuế thực sự lúc này đối với người tiêu dùng là việc phải trả thêm 0,3$/gallon thông qua việc tăng giá; đối với người sản xuất là việc sụt giảm trong khoản thu về 0,2$/ 1 gallon (điểm E, từ 1,5$/ 1 gallon xuống còn 1,3$/ 1 gallon). Gánh nặng thuế thực sự sẽ chia cho 2 đối tượng: người tiêu dùng và người sản xuất. Tuy nhiên, gánh nặng thuế theo luật định là đánh lên nhà sản xuất. 12 Luận văn thạc sĩ Gruber (2000); Metcalf & Fullerton (2002) cho rằng khi cầu không co giãn đối với giá hoặc cung co giãn đối với giá thì người tiêu dùng chịu gánh nặng thuế nhiều hơn.
Khi cầu co giãn đối với giá hoặc cung không co giãn đối với giá thì người sản xuất chịu gánh nặng thuế nhiều hơn. Việc phân chia gánh nặng thuế không phụ thuộc vào thuế suất. Một ví dụ về gánh nặng thuế đối với tiền lƣơng, ai sẽ là ngƣời chịu gánh nặng này? Ngƣời lao động hay doanh nghiệp? Hình 2.